Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Tên một loài cỏ - truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

I

Thằng Tèo bỏ nhà ra đi hôm mùng bốn Tết. Chuyện ấy làm cả xóm xôn xao, ai cũng nói nó bắt đầu cơn điên mới. Bà Kiểu vì thương con, một phần vì sợ ông Kiểu sẽ trút trận lôi đình xuống đầu, bà khóc hết nước mắt, người khô tóp, gầy rộc đi. Ăn ở với bà đã năm mặt con, thật ra ông Kiểu chưa đánh bà một bạt tai nào, nhưng trong những cơn thịnh nộ ông chửi bà như tát nước vào mặt.

Chỉ nhớ tới những trận chửi của ông Kiểu là bà cảm thấy choáng váng và nghẹt thở như chính ông đã dùng những nắm đấm mà giáng tới tấp xuống đầu, xuống ngực bà một cách vũ phu. Sống với nhau gần bốn mươi năm bà đã quen mọi tính ăn nết ở của chồng nhưng bà không sao quên được cái cách đối xử chồng chúa vợ tôi đó.
Mấy ngày liền con Kim Lan, thằng Dũng, con Nhan đổ xô đi tìm thằng Tèo vẫn bặt tăm. Một hôm, người hàng xóm cho hay đã thấy nó lẩn quẩn ở ga xe lửa Hoà Hưng. Con Kim Lan nghỉ một buổi đi làm, đạp xe tìm em. Nó không tin rằng thằng Tèo nhập vào băng móc túi, cướp giật vì nó lù khù, chậm chạp và thêm chứng tâm thần lúc nào cũng lơ lơ láo láo. Nó biết tính em. Mặc dù không như người bình thường nhưng thằng Tèo không biết tham, chưa bao giờ nó lấy cắp vật gì của ai dù rất nhỏ. Nghĩ vậy nhưng con Kim Lan vẫn thấy lo. Làm sao có thể lường được hành động của một người không còn đủ trí khôn. Nó nơm nớp lo sợ cái tình huống chắc chắn sẽ xảy ra nếu thằng Tèo nhập vào băng móc túi: Một là nó sẽ bị công an tóm vì sự chậm chạp và vẻ ngây độn của nó. Hai là nó sẽ bị chính cái đám lưu manh chuyên môn cướp giật ấy “bề hội đồng” để “cuỗm” đi cái món mà thằng Tèo lấy được.
Con Kim Lan sợ hão. Mọi lo lắng, suy nghĩ của nó về thằng Tèo không đúng như sự thật. Nó bắt gặp thằng Tèo lom khom ở một bãi rác khổng lồ gần ga.
- Tèo!
Thằng Tèo ngẩng lên, cây cần móc trong tay nó còn dính cái túi nylon bẹp dí, nhăn nhúm. Nó cười. Cũng vẫn là cái cười không ra tiếng, chỉ có hai vành môi căng rộng ra, dài dại.
- Bà đi đâu vậy?
Nó không điên lại như lời đồn. Con Kim Lan nghĩ vậy và thấy mừng. Nó không trả lời em mà ngước nhìn từ đầu tới chân thằng Tèo. Không ngờ chỉ mấy ngày mà trông thằng Tèo thật thảm hại. Người nó đen như cây dừa cháy sém. Vốn có vóc người cao lớn giờ ốm đi, cái lưng khòm xuống làm cho nó có dáng lỏng khỏng, xấu xí. Cái áo sơ mi ngắn tay bằng vải calicot mặc hôm nó bỏ nhà đi đến nay như biến dạng, tươm nước và đầy cáu bẩn. Đứng gần, con Kim Lan nghe lợm giọng vì cái mùi toát ra từ người thằng Tèo. Một mùi trộn lẫn giữa sự tanh tưởi của rác và hăng hắc của da người khét nắng.
- Mày về nhà đi.
- Chi vậy?
- Má khóc hổm rày mày biết không?
Thằng Tèo đứng ngây ra một chút. Có lẽ câu nói vừa rồi của con Kim Lan đã lay động đến cái phần sâu kín nhất còn lại trong cái đầu mù mờ của nó. Đó là cái tiếng má mà con Kim Lan nhắc. Nhưng rồi nó nhăn răng cười và tiếp tục bới rác.
- Lên xe đi tao chở về.
- Thôi, không thèm.
- Sao mày không chịu về nhà?
- Về để ổng chửi hả? Bữa nào ăn cơm ổng cũng chửi.
-…
- Bà về đi.
Nó bỏ con Kim Lan đứng đó, tiếp tục cái công việc của nó.

II

Chiều mùng bảy ông Kiểu về nhà sau chuyến về quê chúc Tết cùng với mấy người bạn. Dẫn chiếc xe đạp vô nhà với bước chân khệnh khạng, cả người ông nồng nặc mùi rượu. Những lúc ấy tốt hơn cả là đừng ai nói với ông một điều gì. Bà Kiểu biết vậy nên vẫn làm thinh dù bà có nhiều việc muốn nói với ông. Nỗi lo sợ ông sẽ nổi xung chửi bới vì việc thằng Tèo bỏ nhà giờ đây không còn là nỗi ám ảnh của bà nữa. Người ta chỉ thấp thỏm lo âu khi chờ đợi một việc gì đó ở phía trước chứ khi đã chạm mặt, đương đầu với nó rồi thì không còn cái tâm trạng ấy nữa. Vả lại, bà biết tính khí chồng như vậy nhưng ông Kiểu là người rất thương vợ, thương con. Có điều cách bày tỏ tình thương của ông không giống bất cứ người nào, càng không phù hợp với ý muốn của bà và của các con. Mấy ngày nay nỗi lo âu về thằng Tèo dở chứng đã vợi đi để nhường chỗ cho nỗi buồn khổ khác, lớn hơn. Đó là việc con Hưng mấy lần tìm cách tự tử, và việc sắp chia tay với cô Phước, chưa biết ngày nào gặp lại. Những chuyện ấy cứ dồn dập lên tấm lưng còm cõi của bà, một người mẹ, một người vợ. Nếu có ai nói bà suốt đời vẫn là cái bóng của ông Kiểu thì cũng không ngoa. Từ ngày bước chân về nhà chồng là bà đã tự xác định cho mình một chỗ đứng. Suốt đời vì chồng, vì con. Chính cái ý nguyện “xuất giá tòng phu” đó đã luyện cho bà sự chịu đựng bền bỉ. Mọi việc là do quyết định của ông Kiểu, bà chỉ biết nghe theo. Ừ, dù sao thì ông cũng là chồng, là trụ cột của gia đình. Nói như vậy chứ cũng có nhiều chuyện ông Kiểu xử sự theo ý bà, khi ông đã nghe ra, cho là phải. Dẫu sao đó cũng là chuyện hoạ hoằn. Điều đó do một phần cái bản tính cố hữu của ông, một phần cũng do ông bị điếc quá nặng. Ông sống gần như khu biệt với thế giới xung quanh. Mọi diễn biến của gia đình cũng như xã hội được ông tiếp nhận hơn chín mươi phần trăm là bằng mắt, nếu có thể ước lượng được như vậy.
Cái chứng nặng tai quái quỉ ấy ông mắc phải đã hơn ba chục năm nay và ngày càng thêm nặng. Chính ông cũng không rõ nguyên nhân. Chuyện gì đã xảy ra trong gia đình ông ít biết vì không ai nói cho ông nghe, ngoài bà Kiểu. Nhưng có việc bà Kiểu chỉ âm thầm chịu đựng chứ không dám bày tỏ hết với ông. Đúng ra thì các con ông đều ngại nói chuyện với ông. Phải la thật to. Và như vậy khó mà diễn tả khúc chiết mọi vấn đề, có khi là những tâm sự thầm kín, cần sự cảm thông, an ủi. Vả lại, nếu tụi nó muốn nói với ông thì khó có dịp để nói. Ông cứ luôn quát tháo ầm ĩ những chuyện vặt vãnh, nó làm ông chướng mắt. Như thằng Dũng soạn đồ nghề của nó lại để lon sơn của ông lệch vị trí. Nhà có một người đàn bà và ba đứa con gái mà ăn cơm rồi chén không rửa, ngâm một thau đầy ắp. Đã bảo buổi trưa thằng Tèo tranh thủ chà lót chiếc xe mà nó chỏng cẳng ngủ… Mọi cái, hầu như mắt ông Kiểu ngó tới đâu thì cũng có chuyện để nói, không cần biết vì sao phải như vậy. Được cái là ông vẫn hay kể lại với bà những chuyện ông làm hay gặp phải trong ngày. Đó là những giờ phút đầm ấm của tình nghĩa vợ chồng mà bà Kiểu nhận được và cũng chỉ trong những giờ phút ấy bà Kiểu mới hiểu được chồng hơn.
Ông Kiểu đánh một giấc li bì đến nửa đêm. Như thường lệ ông vẫn thức vào giờ nầy. Và hôm nay ông cũng không bỏ qua cái việc mà ông đã làm hằng đêm khi ông ở nhà. Đó là kiểm tra con cái. Ông lò dò đi từ bộ ván này qua giường nọ, từ nhà trên xuống nhà dưới ngó vô mùng đếm đầu từng đứa. Đêm nào thấy đủ ông lặng lẽ vô buồng ngủ tiếp hoặc nói vài chuyện gì đó với vợ. Nếu thiếu mất một đứa là có chuyện ông hạch sách bà Kiểu, rồi đứa ấy ngày mai vác mặt về thì hãy liệu hồn! Chỉ rảo qua một lượt ông đã thấy thiếu mất ba đứa. Thằng Tèo, con Nhan, con Hưng. Trời, chuyện gì vậy? Ông mới có đi mấy ngày mà tụi nó tự tung tự tác đến như vầy sao? Mà cũng tại con đàn bà! Làm mẹ mà không biết dạy con, không quản lý nó được. Đúng là con hư tại mẹ.
- Con Nhan đâu?
Bà Kiểu:
- Nó ở nhà bạn nó ngoài Chợ Lớn.
- Làm gì ngủ ở đó. Có mà đánh đôi đánh đọ kéo nhau làm đĩ! Bà làm mẹ mà cái miệng để đâu, cứ câm họng để nó đi đâu thì đi.
- Nó thất nghiệp ở nhà sợ ông chửi. Hồi chiều nó về ăn cơm thấy ông nó vội lẻn đi.- Vì là giữa đêm, bốn bề yên ắng, lại kề sát tai ông để nói nên giọng bà Kiểu chỉ vừa phải, không phải cố la to như lúc ban ngày. Bà nén nỗi tủi thân vì sự đay nghiến của ông để nói lên phần nào tình cảnh gia đình những ngày gần đây để ông hiểu mà cảm thông, để bà vơi bớt nỗi khổ tâm ngày càng làm bà héo hắt.- Cái xí nghiệp hộp quẹt bị thua lỗ không xuất khẩu được nữa nên người ta cho nó nghỉ rồi.
- Nghỉ chỗ đó rồi không biết làm chuyện gì khác? Ở không, vục mặt vô ăn rồi đi kiếm chỗ khác ngủ là yên hả?
- Thời buổi này ông tưởng dễ kiếm việc làm lắm hay sao?
- Ngày mai lôi đầu nó về đây!
Bà Kiểu thở dài như trút được một phần gánh nặng. Và bây giờ bà ở trong sự chờ đợi đón nhận những cơn bão táp dội tới từ phía ông Kiểu về những đứa khác vắng mặt hôm nay. Nhưng không. Ông Kiểu vẫn im lặng. Điều lạ này làm bà Kiểu ngạc nhiên. Ông không nổi nóng ầm ĩ và cũng không hạch sách, cạch vẽ như mọi khi. Đây là thái độ chưa từng có của chồng từ trước đến nay. Chẳng lẽ ông hiểu hết mọi điều và đang khổ tâm không kém bà. Nghĩ vậy, lòng bà Kiểu thấy nhẹ nhõm. Bà thấy đây là lúc cần thiết để tâm sự với ông mọi việc mà nếu không sẽ khó có dịp để nói.
- Ông ngủ rồi à?
- Chưa. Gì vậy?
- Cô Phước với thằng Subi sắp đi.
- Đi đâu?
- Mỹ. Người ta bảo lãnh cho diện con lai.
Ông Kiểu nói như rít qua kẽ răng:
- Bà nói với tôi chuyện đó làm gì? Nó đi đâu mặc xác nó.
Bà Kiểu vẫn kiên nhẫn:
- Dù sao, ba má sanh ra chỉ có hai anh em…
- Câm ngay. Đừng có giở cái giọng đó với tôi. Tôi có coi nó là em nữa đâu từ ngày nó lấy Mỹ.
Tội lỗi của cô em tính đến nay đã gần hai mươi năm, vậy mà khi nhắc lại lòng ông Kiểu lại trỗi lên lửa giận bừng bừng như mới xảy ra. Bà Kiều không ngờ ông nổi nóng đến như vậy. Thì ra sự im lặng bấy lâu nay của chồng không phải là sự tha thứ. Nó giống như hoả diệm sơn nguội lạnh bên ngoài nhưng chỉ cần một sự chấn động địa chất nào đó thì nó sẵn sàng phun ra biển lửa.
Có tiếng cót két như dây nghiến vào xiên nhà ở sau bếp, rồi tiếng chiếc ghế đẩu ngã. Bà Kiểu hốt hoảng chạy xuống: “Trời ơi, con Hưng…”. Tiếng la làm con Kim Lan choàng tỉnh, tung cả mùng mền chạy xuống. Cả người con Hưng treo lủng lẳng trên cây xiên nhà bằng sợi dây giăng võng có thòng lọng móc vào cổ. Nó ra sức chòi đạp, vùng vẫy hai chân trong khoảng không để thòng lọng thắt chặt hơn nữa. Bà Kiểu run rẩy ôm hai chân nó vẫn bị nó búng tới tấp vào mặt, vào ngực bà. Bà cố hết sức kiềm giữ để con Kim Lan cắt dây. Vừa quị xuống đất ông Kiểu đã sấn tới đánh tới tấp vào mặt, vào đầu nó.
- Muốn chết hả? Muốn chết tao cho chết!
Bà Kiểu nắm tay ông kéo ra. Con Kim Lan đẩy ông suýt bật ngửa.
- Dã man. Thằng cha già dã man.
- Đ.M tới mày nữa hả? Tao giết chết mẹ hết.
- Thằng cha tàn nhẫn. Ông giết nó hả? Nó chết tôi cũng không để ông yên đâu. Một thằng bỏ nhà đi rồi ông cũng chưa vừa lòng nữa hả? Giết đi. Giết chúng tôi chết hết đi để ông sống một mình ông.- Tiếng con Kim Lan sang sảng, làm xáo động sự yên tĩnh vốn có của đêm khuya.

III

Đây không phải là lần đầu tiên con Hưng tự tử. Gần một tháng nay bà Kiểu thường hay bắt gặp khi thì nó lục tìm, moi móc tất cả vải vụn ra, xé nhỏ để bện thành dây, khi thì thấy trên tay nó một vốc thuốc đủ loại đã mốc meo, chưa kịp uống. “Sao vậy Hưng? Có chuyện gì vậy con?”. “Con không muốn sống nữa!”. Nó chỉ nói bấy nhiêu đó. Mặc cho bà Kiểu tìm mọi cách vỗ về, khuyên lơn, con Kim Lan, con Nhan lúc la rầy cho là nó ngu, lúc dịu ngọt tâm tình, kể chuyện vui, nó vẫn trơ như khúc gỗ. Bà Kiểu chỉ còn cách khoá tất cả các tủ lại, đem giấu hết những gì bà cho là con Hưng có thể dùng nó để chết, từ những mảnh vải cho đến con dao. Bà luôn canh chừng nó, để theo dõi từng diễn biến. Bây giờ, đến nỗi đi chợ bà cũng không dám bỏ nó ở nhà một mình nữa. Bà khóc thầm nhiều đêm khi nghĩ đến sự thay đổi bất ngờ của con. Mới ngày nào, con Hưng là niềm kiêu hãnh nhất của bà. Là con gái út, nó lại có tất cả những ưu điểm mà bà mơ ước. Phải nói con Hưng là đứa đẹp nhất nhà. Dáng người cân đối mà dịu dàng chứ không cục mịch như con Nhan. Tính tình thuỳ mị, nhã nhặn chứ không hùng hổ như Kim Lan. Nó lại thông minh, nhanh nhẹn chứ không chậm lụt, đần độn như thằng Tèo. Học hành thì siêng năng, chăm chỉ chứ không như thằng Dũng ngày xưa cứ thường trốn học để đi đá banh hay đi coi chiếu bóng. Bởi vậy bà dồn hết tình thương, đặt hết mọi mơ ước tốt đẹp nhất của bà vào nó. Vậy mà bây giờ bà thấy nó không còn là con Hưng của bà ngày nào nữa.
Chuyện bắt đầu từ ngày nó thi rớt Đại học. Mà không, trước đó nữa, từ bữa ông Kiểu đánh nó ngất xỉu phải chở vào bệnh viện cấp cứu.
Hôm đó ông sai con Hưng lấy xe đạp chạy ra tiệm Văn Thái mua mấy hộp sơn Nhật. Mặc dù con Hưng vẫn phải cố gắng làm theo mọi yêu cầu của ông, nó bỏ qua tất cả những sạp, những cửa hiệu bày bán sơn đủ loại đến ngớp mắt, không màng tới những lời chào mời đon đả của chủ khi nó dừng lại ngó dáo dác tìm bảng hiệu, nó len lỏi tìm ra đúng hiệu Văn Thái và nêu đúng mọi điều kiện như ông Kiểu dặn nhưng mụ chủ vẫn bán cho nó loại sơn giả. Hình thức y như thứ ông Kiểu đưa cho nó coi. Chất sơn cũng vậy, nếu không phải già dặn trong nghề khó mà phân biệt được. Ông Kiểu tức lộn ruột, cho là nó mua ở một sạp bá vơ nào đó, bắt nó đem trả lại và tìm cho ra tiệm Văn Thái mà mua. Ông nói rằng cửa hiệu này từ xưa đến nay rất có uy tín, chưa bao giờ họ làm ăn thất nhân tâm như vậy. Chưa bao giờ ông mua ở đây mà nhầm của dỏm. Ông không lường được họ rất có uy tín là đối với những thân chủ già nghề như ông, còn lại những khách hàng khác năm khi mười hoạ mới ghé một lần thì cái uy tín kia cũng chẳng ích gì khi chén cơm, túi tiền của họ.
Mặc cho ông Kiểu lồng lộn, con Hưng vẫn không đi đổi. Nó vẫn không buồn cãi lại sau khi nói rõ là nó mua đúng nơi ông chỉ. Điên tiết vì sự lì lợm của nó, vì nó coi thường mệnh lệnh của ông, ông Kiểu đã không kiềm được đôi tay hộ pháp của mình. Dưới những cú đấm trước ngực, sau lưng con Hưng không la được tiếng nào, chỉ hự hự mấy tiếng trong cổ họng rồi quị xuống góc tủ…
Từ hôm đó con Hưng trở nên lơ láo, quên nhớ thất thường. Tiếp theo là việc nó thi rớt Đại học Y khoa. Ước mơ trở thành bác sĩ bây giờ chỉ là một giấc mộng. Sau cú “sốc” ấy nó trở nên lầm lì đến dễ sợ. Suốt ngày không nói tới ai, ở lỳ trong bếp. Có đến mấy tháng rồi con Hưng chưa hề bước chân lên nhà trên. Bạn bè cùng lớp đến thăm cũng không ra tiếp. Đêm đến nó lục đục đến khuya. Khi đinh ninh là mọi người đã ngủ thì nó mới bưng cây đèn trứng vịt ra sau nhà tắm để chong đầu, nằm dài trên nền xi măng như người chết. Bà Kiểu bắt gặp, vừa khóc vừa năn nỉ nó mới chịu vô nhà, để rồi hôm sau vẫn vậy. Mọi người dùng đủ biện pháp để thuyết phục nó chịu đi bệnh viện chữa trị, nó nổi khùng: “Ai đụng đến tui là tui cắn lưỡi”.
Con Nhan đi chùa, đi núi Châu Thới vào những ngày rằm, ba mươi hàng tháng để cầu nguyện, xem bói cho em, may ra tìm được nguyên nhân. Thầy bói sau khi hỏi qua tuổi tác, ngày sinh tháng đẻ của con Hưng, hướng nhà, triệu chứng bệnh… đã chiếm quẻ, nói rằng con Hưng mắc phải vong “Vu hồn lạc mộ”. Ông giải thích: “Trong ngôi nhà cô hiện nay có một ngôi mộ lạng. Ngôi mộ cổ và vô chủ nên lâu ngày biến thành đất bằng. Vì không phân biệt được đâu là mộ đâu là đất bằng nên khi làm nhà ngôi mộ đã nằm gọn trong đó. Bây giờ không những nó hại em cô mà còn phá tất cả mọi người trong gia đình”. Nhan về kể lại, bà Kiểu và con Kim Lan đều kinh hãi. Nhưng bà không dám hở môi với chồng. Ông Kiểu vốn không mê tín.
Con Kim Lan tuy tính tình ngang bướng, miệng lưỡi dữ dằn nhưng là người sùng đạo nhất nhà. Cứ mỗi buổi tối con Kim Lan đốt nhang trên bàn thờ Đức Mẹ Quan Thế Âm, miệng lầm rầm đọc kinh Phạn: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da…”. Cúng xong nó thỉnh “Nước của Mẹ” cho con Hưng uống. Con Hưng dằn lấy hắt xuống đất, không nói tiếng nào. Có hôm bà Kiểu nài nỉ khuyên nó uống. Bà khấn lầm thầm xin Mẹ hộ độ cho nó chuyển đổi tâm tánh. Con Hưng nói: “Con có là con nữa đâu mà đổi!”. Nó đổ ly nước xuống nền nhà trong cái nhìn ráo hoảnh.

IV

Thằng Dũng vừa mua được chiếc Gobel. Cả nhà vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Bà Kiểu bỗng hiểu ra lý do những lúc gần đây nó đưa tiền cho bà chi xài trong nhà một cách nhỏ giọt. Những năm trước cuộc sống gia đình không đến nỗi chật vật chính là nhờ thằng Dũng. Nó còn trẻ, tay nghề giỏi nên kiếm được nhiều tiền. Nó lại là đứa chí thú làm ăn, biết lo gia đình, không rượu chè, cờ bạc. Sự chèo chống với cuộc sống khó khăn của gia đình bà Kiểu chỉ trông cậy vào nó. Nhưng nhiều lúc bà nghĩ tội cho con. Hơn ba mươi tuổi đầu rồi mà nó vẫn chưa tính chuyện vợ con. Thằng Dũng cũng không đến nỗi xấu trai nhưng không biết sao các cô gái hầu như xa lánh nó. Bà cũng chưa hề nghe nó nói chuyện yêu đương hay nhắc nhở đến một cô nào. Có lẽ con mình quá cù lần hay vì nó quá nặng gánh gia đình? Bà không hiểu được. Chỉ buồn thương cho con. Khi nó đưa phần tiền chi xài trong gia đình dần ít đi bà Kiểu vẫn nghĩ rằng lúc này công việc làm ăn của nó gặp khó khăn, đồng tiền ngày càng sụt giá lại càng khó kiếm. Nhưng đùng một cái bà nghe con Nhan thỏ thẻ nói là nó bị bồ đá. Thật ra con Nhan cũng chỉ nghe mấy đứa bạn cùng xí nghiệp hộp quẹt nhà ở gần cô bồ của Dũng kể lại. Dũng đã vớ phải một cô ả có máu mặt. Sau thời gian quen biết, với những ngón nghề trong nghệ thuật yêu đương cô ả đã moi được của anh chàng Dũng một máy may, một chiếc nhẫn vàng, quần Jean, áo pull… rồi thì… coi như xong. Thằng Dũng chỉ biết “Bắt thang lên hỏi ông trời…”. Gần đây bà Kiểu biết nó có quen với một cô y tá trong dịp nó nằm điều trị sốt rét. Bà muốn khuyên con nhưng nghĩ dù sao nó cũng đã lớn và đã một lần vấp ngã nên thôi. Nó sắm chiếc xe chắc là để chở cô ấy đi phố, cũng tiện cho việc đi lại xí nghiệp của nó. Chiếc xe đã cũ nhưng máy còn tốt. Cả cha lẫn con đều làm thợ sơn, sơn toàn xe du lịch với xe đò mà quanh năm suốt tháng chỉ đi bằng xe đạp. Nay nó được chiếc gắn máy, bà Kiểu cảm thấy hãnh diện.

*

* *

Đã lâu lắm hai cha con mới có dịp ngồi nói chuyện với nhau. Ông Kiểu than:
- Mấy tháng nay tao sơn ba chiếc, cả ba chiếc đều bị bong ra. Vậy là sao?
Thằng Dũng im lặng.
- Chiếc Mazda tao vừa làm chà, trét, lót thật kỹ rồi mà chừng thổi bóng mấy ngày sau chỗ đó vẫn bị phồng!
Thằng Dũng nổi quạu:
- Tôi nói với ông bao nhiêu lần rồi ông không nghe. Cái cách làm của ông xưa rồi, không còn hợp với sơn bây giờ nữa.
- Hả?
- Ông trét cho cố, dày mo. Thổi lót nước nhất, nước nhì còn trét không chờ cho khô thì khi lên màu nó bị rút rồi phồng lên chứ sao?
- Tại sơn chứ trét gì? Hồi xưa tao làm đâu có vậy?
- Nói tới ông là ông nhắc tới hồi xưa. Cái hồi xưa của ông khác.
Vậy là có dịp để ông Kiểu nhắc lại quá khứ, cái thời huy hoàng nhất của đời làm nghề của ông. Thằng Dũng ngồi đực ra mà nghe, mặc sức khó chịu như bị tra tấn. Bởi nó đã thuộc nằm lòng những câu chuyện ông kể giờ nghe chỉ nhàm tai. Nó cho rằng ông gặm nhấm quá khứ, đem cái cách làm cũ rích cách nay mấy mươi năm để áp dụng cho cái thời buổi mà tiến bộ kỹ thuật cùng với sự xảo trá, ma mãnh của con người phát triển theo tốc độ tên lửa. Còn ông, ông muốn các con phải khắc cốt ghi tâm cái quãng đời huy hoàng của ông. Ông muốn cái kinh nghiệm kia phải thấm vào trong máu thằng Dũng, thằng nối nghiệp ông. Khổ nỗi, thằng Dũng từ khi học nghề đã sớm phát hiện ra tay nghề của cha mình quá lạc hậu so với nhiều thợ sơn đương thời nên nó đã lau lách học hỏi, rút tỉa được nhiều kinh nghiệm của nhiều bậc thầy. Nói cho đúng, nhiều lúc nó nghĩ ông Kiểu tự hào cũng chính đáng. Nếu không giỏi sao mới mười tuổi đầu mồ côi cả cha lẫn mẹ đã tự bươn chải nuôi thân còn đùm bọc, nuôi nấng đứa em gái mới hơn năm tuổi. Những năm đó tên tuổi của ông nổi tiếng cả Sài Gòn, Chợ Lớn. Vậy mà ông vẫn nghèo, trong khi nhiều thợ sơn khác tay nghề xoàng xỉnh, chưa đáng là học trò ông mà họ giàu sụ, đi đến xưởng bằng xe hơi riêng. Có lẽ do hoàn cảnh gia đình của họ không đến nỗi như ông. Một mình ông mà lo năm, bảy miệng ăn, không đói đã là sự diệu kỳ rồi chứ nói chi đến chuyện giàu. Nhưng khi các con ông lớn, cái nghèo vẫn chưa chịu buông tha. Ông vẫn cần cù đầu tắt mặt tối với công việc nhưng tay nghề của ông không được ưa chuộng của khách hàng như trước nữa. Sơn tức là làm lại cho bóng loáng cái đã tróc, đã cũ. Nói vậy chứ không đơn giản chút nào. Ông đã quen với sơn Pháp và cách làm của ông là phù hợp. Vả lại thời ấy cái gì cũng rẻ, giá cả ổn định và cái giả cái thiệt đâu ra đó. Sang đến thời sơn Mỹ, mọi thứ đều tăng vùn vụt nên các công đoạn làm cũng phải giản lược đi. Phải chiều theo ý khách hàng lúc nhận xe, họ cần bóng lộn đến soi rõ mặt trong đó để có thể biểu diễn những đường lả lướt trên đường phố năm, ba tháng rồi sau đó cần thì sơn lại, hoặc họ đòi thứ khác moderne hơn. Rồi bây giờ đụng tới sơn Nhật và hàng lô hàng lốc những thứ cả Tây lẫn Tàu mà trong đó cái thật chiếm một tỉ lệ hiếm hoi thì phải có cách mà xử lý. Ông Kiểu bao nhiêu năm rồi vẫn vậy. Ông không quen thay đổi và không sao quen được với sự tráo trở. Vì lòng tin ở tay nghề và sự tận tuỵ của mình: nó sẽ vượt qua tất cả như ông đã từng vượt qua. Ông không muốn có sự xáo trộn nào khác với bình thường. Các con ông phải làm việc và phải luôn làm việc. Mọi thứ khác ông không cần biết đến. Bởi vậy thấy con Nhan cứ nhong nhỏng ở nhà, tới buổi nhào vô ăn, thằng Tèo cười đã rồi vô lục cơm nguội thì ông chửi. Cuộc đời đã dạy cho ông như vậy mà. Phải làm cật lực, đầu tắt mặt tối mới có miếng ăn. Còn như tụi nó không khéo sẽ hư hết.
- Mẹ, hồi xưa tao sơn đâu có vậy. Tao thổi chiếc nào ngon lành chiếc đó chứ như bây giờ thì tụi bây chết đói rũ xương.
Lần đầu tiên thằng Dũng thấy xúc động trước những lời của cha mình.
- Ba coi, sơn tức là ba cũng đã làm giả rồi. Chứ gì? Làm cho mới cái đã cũ để mọi người nghĩ rằng nó đẹp, nó mới là giả. Người bán thứ để ba làm giả đó họ cũng có quyền bán của giả, thậm chí làm của giả để bán thì có khác gì đâu mà trách họ?
Ông Kiểu thở dài, không nói nữa. Ông vớ lấy cuốn từ điển về cây thuốc Nam chỗ kệ sách của con Hưng xuống đọc. Gần đây những lúc không có việc làm ông giết thời giờ bằng cách nghiên cứu cây thuốc chữa bệnh và lấy làm thích thú.

V

Thoáng thấy con Nhan từ ngoài ngõ lấm lét nhìn ông rồi lủi vô nhà cô Phước, ông gọi:
- Nhan, về tao biểu.
Con Nhan về.
- Hổm rày mày ngủ ở đâu?
- Nhà con Thuỵ Khương, để khuya dậy phụ dọn hàng ra chợ với nó.
- Mày không biết bán như người ta sao mà phải dọn phụ. Đừng có xảo trá.
- Bán hả? Vốn đâu? Dọn phụ nó cho tiền hàng ngày đã là may…
- Tiền mày làm đĩ chứ tiền gì dọn hàng.
- Ba muốn tôi làm đĩ không, tôi làm đĩ cho ba coi? Tốt không muốn, ba muốn tôi xấu hả? Tôi làm đĩ, tôi xấu, ba cũng chẳng tốt lành gì đâu!
- Hả, mày nói gì đó? Tao đá chết mẹ bây giờ. Từ nay tao cấm mày bước chân ra khỏi nhà vào buổi tối, nghe chưa?

VI

Gần mười giờ đêm. Có tiếng xích lô đậu trước cửa nhà, rồi tiếng kêu cửa. Thấy thằng Tèo nằm quặt quẹo trên xe bà Kiểu la lên hoảng hốt. Cả nhà ùa ra. Người đạp xích lô là anh hàng xóm nhà ở bên kia con hẻm.
- Bình tĩnh, không có chuyện gì đâu. Nó say rượu thôi mà.
- Trời đất!
- Tối nay thấy trong người khó chịu quá tôi về ngủ sớm. Đạp xe tới đường Tú Xương tôi thấy thằng Tèo lăn lộn trên lề đường, ói mửa lênh láng, tôi chở nó về đây.
Thằng Dũng, con Nhan, con Kim Lan xúm nhau khiêng thằng Tèo vô nhà. Bà Kiểu thôi không khóc nữa, lo nấu nước nhúng khăn đắp lên ngực nó. Ông Kiểu tuyệt nhiên không nói tiếng nào. Ông lẳng lặng đi ra trước nhà chỗ trồng mấy cây thuốc Nam, lát sau đem vô đưa con Kim Lan mấy củ thiềng liềng: “Đâm vắt nước rồi đổ vô miệng nó”.
- Tiền đâu mà mày nhậu? – Sáng hôm sau, con Kim Lan hỏi.
- Bán túi mủ với ve chai.
- Mỗi bữa được bao nhiêu?
- Ngàn mấy, hai ngàn.
Bà Kiểu hỏi:
- Con ăn cơm ở đâu?
- Ăn cơm tiệm, uống bia Hải Âu nữa chứ.
Nó móc trong túi ra mấy tấm vé số nhứ nhứ trước mặt con Kim Lan, cười toét miệng.
- Biết dò không?
- Sao không!
Bà Kiểu:
- Con ở nhà luôn nghe Tèo?
- Thôi.
- Tối con ngủ ở đâu?
- Ở chợ, sạp trống thiếu gì.
- Thôi, tối ở nhà ngủ phụ canh con Hưng với má.
Nó cười cười rồi trỏ ngón tay về phía ông Kiểu đang đọc cuốn từ điển cây thuốc Nam. Ông nói vọng qua:
- Mai mày ở nhà phụ chà chiếc xe tao cho một ngàn.
Nó vẫn không trả lời. Thừa lúc ông Kiểu cúi xuống cuốn sách thằng Tèo le lưỡi, nhún vai. Cử chỉ ấy làm mọi người bật cười nhưng ai cũng nhớ đến cái lần nó bị ông Kiểu treo ngược lên cây dừa phía sau nhà đánh đến thâm tím mình mẫy. Con Nhan bỉu môi:
- Nó khôn trời thần chứ khùng gì!

VII

Hôm nay cô Phước tổ chức liên hoan trình với đất nước, ông bà, chia tay họ hàng thân thuộc để sáng mai mẹ con cô ra sân bay. Từ sáng sớm cô đã tất bật lo chợ búa, bếp núc. Con Nhan thủ vai đắc lực trong việc làm bếp. Bà Kiểu thì cứ chốc chốc chạy qua chạy lại chứ không ở đâu yên đâu vì thấy vắng bà chừng nửa tiếng là ông Kiểu đã la lối om sòm. Nhưng ở bên nhà “bình chân như vại” như ông Kiểu thì bà không nỡ. Tội nghiệp cô ấy trong ngoài chỉ một thân. Con Kim Lan vẫn đi làm vì không dám nghỉ thêm một ngày nào nữa, hẹn sẽ về lúc ba giờ chiều. Thằng Dũng thì cả tuần nay không ai thấy mặt. Con Hưng vẫn không bước chân khỏi nhà bếp. Nó tuôn ra nào là quần áo rách với một đóng vải vụn rồi ngồi vá víu suốt ngày, không nói tới ai. Thằng Tèo ngồi nơi bộ ván đong đưa chân nhìn cảnh tấp nập bên nhà người cô mà cười hoài. Không ai biết nó nghĩ gì. Bên kia thằng Subi lăng xăng đón tiếp bạn bè, nói cười rôm rả. Khách khứa đến đều lộ vẻ ngạc nhiên trước cảnh căn nhà hôm nay trông lạ lẫm, nó bề bộn mà lại trống toang hoác từ trước tới sau. Ở giữa nhà, nơi trước đây có bức tường ngăn giữa phòng khách và buồng ngủ giờ chỉ còn một vạch dài lồi lõm những miếng gạch vụn nát. Thằng Subi luôn miệng giải thích rằng trước ngày mẹ con nó nhận được giấy báo ba hôm bức tường bỗng nhiên rung nhẹ rồi tuột luốt xuống đất. Cũng may, lúc đó không ai ở gần đó, và đồ đạc trong nhà không hề hấn gì. Ai nấy đều lấy làm lạ, xem như là chuyện khó tin nếu không nhìn tận mắt. Một vài người tỏ ra hiểu biết nói rằng có lẽ ngày xưa nơi đây là đống độn hoặc giếng nước đến khi làm nhà đổ nền không kỹ, vả lại bức tường ngăn không có kiềng chịu nên lâu ngày nó phải sụt xuống. Những lời giải thích ấy được xem là hợp lý nên làm không khí lắng dịu, chuyển sang đề tài khác. Riêng cô Phước không an tâm dù lời giải thích kia có thể là đúng. Trong thâm tâm cô hằn lên nỗi hoang mang không biết đó là điềm báo lành hay dữ. Gọi là điềm lành cũng đúng vì sau đó ba hôm cô đã nhận được giấy báo xuất cảnh, điều mà bấy lâu nay mẹ con cô mong đợi. Nhưng còn điều gì nữa sẽ xảy ra, làm sao mà biết được. Nhìn khách khứa đến đông nghẹt trong ngày cuối cùng cô còn ở quê hương mà ông Kiểu, người anh duy nhất của cô không bước chân qua, nước mắt cô cứ lặng lẽ tuôn ra không kiềm được.
Sẩm tối, cô Phước bước qua sân nhà người anh. Ông Kiểu đang mải mê ngồi xới đất hạ thổ mấy cây thuốc ông vừa tìm được. Cô Phước cúi xuống kề sát tai ông:
- Anh Hai ở lại mạnh giỏi. Mai em đi.
- Ừ.
- Anh trồng cây gì vậy anh Hai?
- Thuốc.
Ông Kiểu vẫn không ngẩng lên, mải mê xới đất bằng mũi dao phay. Nói làm gì tên cây thuốc với nó. Thứ mất gốc.
Lúc trưa, khi nhà cô Phước khách khứa tấp nập, ông Kiểu thấy gay mắt, không thèm ngó. Nhưng ở bên nhà ngồi đứng cũng không yên, ông dẫn chiếc xe đạp ra ngõ rồi đạp thẳng ra ngoại ô hóng gió. Vào mùa này hai bên đường ruộng chỉ còn trơ gốc rạ, đất nứt nẻ. Những con bò kiên nhẫn ngoạm bứt những gốc rạ khô rụt. Bỗng thấy bên vệ đường một đám cỏ xanh um, tươi tốt vậy mà không một chú bò nào béng mảng tới. Ông Kiểu ngạc nhiên đứng nhìn những chú bò ngu ngốc. Đến lúc hỏi ông lão cuốc đất mới vỡ lẽ đó là đám đoạn trường thảo mà ông đã đọc được trong cuốn từ điển cây thuốc nhưng chưa có dịp gặp. Hèn gì, loài bò ngu dốt kia cũng hiểu được nếu ăn phải chúng sẽ đứt ruột nên đã lảng xa. Ông Kiểu bứng một ít đem về trồng thí nghiệm trên mảnh vườn thuốc Nam của ông.
Say sưa với công việc, ông chẳng buồn trả lời cô em. Cô Phước lặng lẽ ra về. Cô bắt gặp thằng Tèo với thằng Subi đang bắt tay nhau. Lâu lắm tụi nó vẫn chưa chịu buông nhau ra. Thằng Subi thì cười cười, nói nói gì đó cô không còn nghe nữa. Thằng Tèo đứng đó lặng thinh, ngây độn và đầm đìa nước mắt. Tim cô bỗng nhói đau.

VIII

Mẹ con cô Phước ra đi ít lâu, sự xáo động trong tình cảm mẹ con bà Kiểu cũng dần lắng xuống. Cuộc sống vẫn bình thường trôi như cái bình thường của nó vốn có. Chỉ có ông Kiểu không hiểu sao ít nói hẳn đi. Cứ mỗi chiều khi đã xong công việc chuyên môn ông xách nước tưới mảnh vườn thuốc, rồi bất chợt ông nhìn sang nhà cô em. Có lúc bà Kiểu bắt gặp ông đứng chôn chân như thế không biết bao lâu. Những lúc ấy trước mặt ông Kiểu không là ngôi nhà nữa mà chỉ là bức tường trắng cứ lớn dần, lớn dần choáng hết cả tầm mắt.
Bây giờ vườn thuốc của ông cũng không còn những cây đoạn trường thảo nữa. Bởi cách đó một tháng bà Kiểu phát hiện được loài cây độc nên nài nỉ ông nhổ bỏ vì sợ con Hưng lên cơn khùng ăn bậy. Tuy vậy, chỗ đất đó ba bốn năm sau vẫn không một loài cây nào sống nổi.

1988

Tác giả giữ bản quyền. Chọn từ tập truyện "Tên một loài cỏ" của Nguyên Tùng
N.T (Bến Tre)

Điều không nhận được - truyện ngắn của nhà văn Nguyên Tùng

- Cháu ngồi xuống đây.
Ông Thuần chỉ chiếc ghế sa lông bọc nhung đỏ có viền đăng ten trắng ở phía đối diện. Hiên ngồi xuống lặng lẽ nhìn ông Thuần thu dọn giấy tờ, sổ sách thành một chồng gọn ghẽ rồi đẩy dạt về một góc bàn, lấy chiếc bao kính dằn lên. Ông thở ra một hơi dài. Bây giờ ông mới cười với Hiên. Nụ cười làm gương mặt ông giãn ra, tươi tắn, nó biểu lộ sự bao dung, rộng lượng của người cha có lẽ ngoài những đứa con ông chỉ có thể có đối với Hiên.

- Công việc của cháu lúc này ra sao?
- Cũng bình thường chú à!
- Cháu có về thăm nhà? Má cháu đã đỡ chưa? Nói má cháu mỗi tối ráng ngâm chân trong nước nóng chừng mười phút.
Bao giờ cũng vậy hễ gặp Hiên là ông Thuần sốt sắng hỏi những câu ấy hết sức ân cần. Giữa bao công việc bề bộn, Hiên biết có những buổi trưa ông không hề được ngả lưng chợp mắt lấy một chút vậy mà ông vẫn quan tâm đến Hiên. Cái chứng tê thấp mấy mươi năm của má Hiên đến như bất trị, duy có một lần Hiên kể với ông hôm mới về nhận việc, ông vẫn nhớ. Phải có tình cảm thật sâu đậm thì người ta mới không quên những điều hết sức vụn vặt ấy. Hiên cảm nhận được điều đó và thầm cảm ơn ông. Nhưng lúc này thái độ ân cần của ông Thuần không làm cho Hiên hết nỗi băn khoăn. Hình như những điều vừa nói không phải là mục đích ông gọi Hiên lên sở gặp ông. Tuy vậy, Hiên vẫn nén lòng chờ đợi chứ không bật ra câu hỏi.
Rồi điều đó đã đến. Sau một lúc đắn đo, cân nhắc, những ngón tay vẫn gõ nhè nhẹ đều đều lên mặt bàn, ông nói giọng trầm hẳn xuống:
- Gần đây chú có nghe anh em dưới công ty nói về quan hệ của cháu với Sĩ. Chú thì chú chưa tin đâu. Vì Sĩ vợ con ràng ràng ra đó, còn cháu thì mới về công tác chưa đầy một năm, việc hiểu nhau chưa phải đã nhiều. Chú chỉ muốn lưu ý cháu, vì đã có dư luận, nên cháu phải dè dặt hơn để tránh sự hiểu lầm.
Dù có linh cảm đây sẽ là cuộc gặp gỡ không bình thường nhưng điều ông Thuần nói đã vượt quá sức tưởng tượng của Hiên. Cô nghe ngực mình đau nhói, nén hết sức mới không để những giọt nước mắt ứa ra trước mặt ông Thuần. Hiên không biết phải trả lời sao với ông. Thanh minh? Không. Nó sẽ là sự ngụy biện càng tăng thêm nỗi nghi ngờ. Vả lại, ông nói là ông không tin những lời đồn đại ấy kia mà!
Hiên không được cho phép mình nghĩ khác hơn ý nghĩ ban đầu về ông Thuần. Chẳng phải Hiên đã được ông chiều chuộng, thương yêu như con ruột đó sao? Hôm đến sở nhận công tác, thăm hỏi một hồi ông Thuần nhận ra Hiên là con của người đồng đội thân thiết của ông. Hôm đó Hiên mới biết tường tận trường hợp hy sinh của ba cô. Kể lại ông Thuần đã khóc, vì những hình ảnh khốc liệt của chiến tranh cứ dồn dập hiện về như nó vừa mới chấm dứt hôm qua. Ông lấy làm ngạc nhiên khi biết được cho đến nay mẹ con Hiên vẫn chưa nhận được tấm giấy chứng nhận ba cô là liệt sĩ. Ban đầu là ngạc nhiên nhưng sau đó ông ray rứt vì cảm thấy mình có lỗi. Ông tự xỉ vả mình là kẻ vô tâm. Một người duy nhất chứng kiến cái chết của đồng đội mà suốt mười ba năm trời sau giải phóng vẫn im hơi lặng tiếng, không một lần đến nhà xem vợ con người ấy sống ra sao? Chiếc bòng bằng vải dù Mỹ, một cuốn sổ tay ghi chép linh tinh không hẳn là nhật ký có tên làng xã, vợ con người bạn ấy ông Thuần vẫn còn cất giữ. Nhiều lúc chợt nhớ đến nó lòng ông Thuần lại dậy lên nỗi day dứt như mình còn mắc một món nợ chưa trả được. Ông tự hứa là có một dịp nào đó công việc rảnh rỗi ông sẽ tìm đến cái làng biển heo hút của người đồng đội trao tận tay vợ hoặc con người ấy những kỷ vật mà ông đã gìn giữ khi anh ấy hy sinh. Ông biết những kỷ vật ấy không hề có chút giá trị gì về mặt vật chất trong thời buổi mà đồng tiền là chiếc chìa khoá vạn năng này nhưng nó sẽ là vô giá đối với vợ con người bạn. Đối với họ chiếc bòng, cuốn sổ tay kia chính là hình ảnh, chính là hơi hướm của người thân mà họ không bao giờ gặp lại nữa. Có nhiều đêm nỗi day dứt đã bừng dậy trong ông mãnh liệt, nó thúc giục ông đi đến quyết định là ngay ngày mai vào sở ông sẽ sắp xếp công việc, cắt đặt, phân công đâu vào đó để thứ ba, thứ bảy tuần này hoặc thứ năm tuần tới hoặc đầu tháng tới nữa ông đi. Những lúc như vậy như để kiểm tra lại xem những món ấy có còn nguyên vẹn không ông lại mở khoá một ngăn tủ của chiếc bàn làm việc lôi chiếc bòng ra. Ông cảm thấy yên tâm khi nó không bị mối mọt hay những con gián chết tiệt phá hại, chỉ có bốc lên mùi ẩm mốc và bị phủ một lớp bụi mỏng dù ông đã khoá tủ cẩn thận. Vào sở chưa tính được gì thì có đoàn khách trung ương về hoặc văn phòng vừa nhận công văn mời giám đốc dự cuộc họp này, đại hội kia… rồi bao nhiêu việc khác nữa cứ ập đến. Ông quên bẵng đi cái ý định hồi hôm, khi nhớ ra thì đành tự nhủ: Thôi, để dịp khác, chắc cũng chưa muộn. Vì công việc lúc nào cũng vây quyện, trói giò trói cẳng chứ mình đâu muốn vậy! Cứ thế lần lựa tháng này qua tháng khác, hết năm nọ đến năm kia ông vẫn chưa thực hiện được cái ý định của mình. Cái ý định cỏn con vậy mà nó dằn vặt ông quá sức. Thật là may mắn, cô kỹ sư nông nghiệp mới ra trường vừa được điều về chính là con của người bạn ấy. Không thể nói hết được niềm vui của ông Thuần lúc nhận ra Hiên. Ông như người trút bỏ gánh nặng suốt đoạn đường dài dằng dặc nắng như đổ lửa mà không tìm được nơi nghỉ chỉ trừ khi đến đích.
- Không biết thì thôi, biết rồi cháu hãy coi chú như ba cháu. Chú sẽ lo cho cháu.
Ông không ngờ sự đời nhiều lúc xảy ra như những trường hợp ngẫu nhiên khó hiểu đến như vậy. Tại sao cô gái này chứ không phải ai khác đã chọn ngành nông nghiệp để rồi về Sở và gặp ông. Ông cảm thấy hạnh phúc và tự thấy trách nhiệm của mình đối với Hiên. Nhưng nỗi day dứt bấy lâu nay tưởng sẽ trút bỏ dễ dàng bây giờ lại đè nặng ông hơn. Đó là khi ông biết cho đến nay mẹ con Hiên vẫn chưa hề biết chút xíu gì về cái chết của ba cô. Sau ngày giải phóng, giữa bao cảnh sum họp vui vẻ của nhiều gia đình thì mẹ con Hiên vẫn sống trong sự khắc khoải hy vọng. Ba tháng rồi một năm, không có tin tức gì. Những lời đồn đại rồi sự khẳng định của mẹ con Hiên là ba cô không còn nữa.
Khi chính quyền địa phương đến vận động gia đình Hiên nên lo hồ sơ liệt sĩ cho ba cô cũng là lúc mẹ Hiên hết sức bối rối. Hiên đã hỏi thăm những người có thể hỏi, cũng không một ai cùng đơn vị với ba cô. Một lần Hiên lên tỉnh đội cũng không ai biết rõ tường tận ba cô chết trong trường hợp nào. Khi mà mẹ con Hiên không còn hy vọng nữa thì Hiên gặp ông Thuần. Ông đã mở cái ổ khoá của cái chết ba Hiên mà suốt mười năm trời chưa ai mở được.
* *
*
Đội kỹ thuật của Công ty dịch vụ kỹ thuật cây trồng thuộc Sở Nông nghiệp là một dãy nhà trệt ba căn nằm trên một bìa ruộng ngoại ô thị xã. Từ đường cái dẫn vào đội bằng lối đi nhỏ hai bên trồng bạch đàn thẳng tắp. Thường ngày đi đâu về đến khúc rẽ là Hiên xuống xe dẫn bộ. Cô thích như vậy. Sau một đoạn đường nắng gắt, rẽ vào con lộ nhỏ đầy bóng râm làm cho người dễ chịu. Nhưng hôm nay Hiên cứ đạp xe xộc vào đến cửa nhà. Dù cố giữ nét mặt thản nhiên nhưng nó không lọt qua được cặp mắt của Sĩ. Vừa thấy Hiên anh hỏi với vẻ sốt ruột:
- Có chuyện gì vậy Hiên?
- Đâu có gì anh.
- Đừng giấu. Bị ông Thuần xạc rồi phải không?
- Dạ không. Ông hỏi thăm về hồ sơ của ba em mà!
Sợ Sĩ bắt gặp ánh mắt tố cáo điều nói dối vừa rồi Hiên quay ngoắt về phía phòng mình.
Cho đến lúc này Hiên cũng không hiểu tại sao ông Thuần lại nói với cô những điều ấy. Đối với Hiên đó là sự xúc phạm danh dự một cách đau đớn dù câu nói được che đậy đến mức nào. Có thực sự là ông đã nghe được lời đồn đãi ấy từ phía những người ở công ty? Anh Hoàng, anh Miên, anh Trọng… các anh đã nghĩ về tôi như vậy sao? Để loại trừ Sĩ các anh đã đưa tôi làm một con cờ cho nước đi của mình? Đã lâu nay các anh đối xử ân cần, chăm chút tôi như đứa em gái chỉ là ngoài mặt? Ôi cái ngoài mặt thật là đáng sợ.
Sự bằng mặt không bằng lòng của những người ở đây đã làm cho Hiên một cô gái mới thực sự bước chân vào đời quá ngỡ ngàng.
Toàn đội kỹ thuật vẻn vẹn năm người, có Hiên về thêm được một lại là nữ nên ai cũng quý. Các anh đã lo lắng cho Hiên trong những điều kiện có thể lo được nhằm tạo thuận lợi cho cô phát huy năng lực của mình. Một căn phòng sạch sẽ, thoáng mát, cửa sổ thông ra khu ruộng thí nghiệm nhân giống. Anh Hoàng, đội trưởng còn giao cho Hiên quản lý phòng thí nghiệm để thoải mái trong việc nghiên cứu. Lúc mới về nhìn Sĩ, Hiên có cảm giác sờ sợ. Người gì lúc nào cũng có vẻ tất bật và cực đoan. Cái gương mặt xương xương đen sạm, tai tái của người từng trải những cơn sốt rét; đôi chân mày rậm ngang phè tạo cho đôi mắt sâu sáng quắc toát lên vẻ khắc khổ và bướng bỉnh. Thôi nhỏ ơi, mi chỉ giỏi phát hiện những mầm bệnh do các loại nấm, các loại tuyến trùng, ấu trùng gây ra trên cây cỏ chứ làm gì đủ kinh nghiệm để nhận xét con người! Hiên cười thầm.
Thật lòng, Hiên quý Sĩ ở công việc. Mỗi lần họp kiểm tra kế hoạch công tác thì chắc chắn Sĩ sẽ cãi. Cãi dữ dội. Thường là cãi nhau về quan điểm. Trên thực tế thì Sĩ cãi với Hoàng đội trưởng nhưng suy cho cùng là anh bất đồng quan điểm với ông Thuần. Bởi vì Hoàng chỉ là người phát ngôn trung thành của ông. Trong những cuộc tranh cãi như vậy, Sĩ luôn là người to tiếng nhất, lập luận vững chắc, chứng minh cụ thể để bảo vệ quan điểm của mình. Nhiều lúc Hiên thầm thán phục anh có tài hùng biện. Nhưng cái chất hùng biện ấy chính là mối hiểm hoạ cho anh. Người nghe không bắt bẻ anh vào đâu được đành im lặng. Mà im lặng một cách hậm hực, tức tối để rồi sau đó ngấm ngầm hại anh. Chuyện ấy khó khăn gì. Sàng sàng cá mè một lứa với nhau về tuổi tác, về thành tích trong kháng chiến, về chuyên môn nếu đánh giá trên bằng cấp mà Sĩ chỉ là một anh cán bộ bình thường khi Hoàng là đội trưởng, Trọng là đội phó, Miên là bí thư chi bộ công ty luôn cận kề giám đốc Sở. Họ tha hồ thêu dệt, suy diễn theo cách nghĩ của họ, về mục đích, về thái độ của Sĩ trong việc đấu tranh quan điểm với ông Thuần. Họ đã điểm trúng huyệt ông giám đốc.
Để biết được những chuyện ấy đối với Hiên thật không dễ dàng chút nào. Cô phải đánh đổi nó bằng cả cái chất hồn nhiên, trẻ trung của một cô gái mà nó chỉ có ở một giai đoạn nhất định trong cả đời người. Rời khỏi ghế nhà trường với bao ước mơ, bao dự định tốt đẹp, cô sẽ thực hiện khi về cơ quan công tác. Hiên thật sự hài lòng khi được sống trong cái tập thể nhỏ nhoi mà rất đổi thân tình này. Các anh sống chan hoà, gắn bó với nhau quá! Hầu như chỉ có công việc chuyên môn, chỉ có khoa học là điều say mê duy nhứt. Thường trên bàn trà và thỉnh thoảng bên ly rượu, các anh say sưa bàn về những phát minh khoa học phục vụ nông nghiệp mới nhất trên thế giới, những giống lúa mới lai tạo hay xoay quanh hướng khắc phục những cánh đồng bị nhiễm mặn ở các huyện vùng biển… Cuối cùng cũng quay về những khó khăn, những vướng mắc lớn nhất mà đội đang gặp phải. Bao trùm lên tất cả chính là sự không quan tâm đúng mức của Sở đối với đội kỹ thuật, đối với những người làm công tác khoa học.
Ấy vậy mà không biết từ lúc nào Hiên có cảm giác hình như trong cái vẻ ấm cúng của tập thể đội kỹ thuật có ẩn chứa sự rạn vỡ. Nó kín đáo lắm, nó tế nhị lắm, nhưng mà có. Hiên nhận ra Sĩ bị cô lập trong bức màn tế nhị ấy. Vả lại cũng không có lý do gì để mà lộ ra trong mối quan hệ thường ngày được. Sĩ cãi dữ dội trong các cuộc họp để nhằm đi đến thống nhất nhau trên quan điểm chứ còn sau đó trách nhiệm của anh đối với công việc thì không chê vào đâu được. Việc gì anh nhận làm thì làm một cách say mê. Những lúc sau này Sĩ thường đi về những vùng trọng điểm lúa. Và bao giờ anh cũng có những phát hiện hết sức tinh tế nhưng y như rằng sau đó anh sẽ nổi nóng, sẽ thắc mắc, sẽ quy tội cho những người có trách nhiệm. Trong một cuộc họp toàn công ty có giám đốc Sở xuống chủ trì, nhân bàn việc đưa cây đậu nành xuống ruộng, Sĩ nói:
- Vấn đề này không phải mới mẻ gì nhưng đến hôm nay chúng ta mới quan tâm tới thì đã quá chậm. Tại sao không thực hiện sớm hơn từ những năm trước? Trong khi những nơi khác, người ta đã làm chán chê, đã xuất khẩu thu về một số lượng ngoại tệ lớn thì ở đây ta mới chập chững bước theo. Đã vậy mà khâu đầu tư, một khâu hết sức quan trọng góp phần quyết định cho sự thành công thì các đồng chí không nghĩ tới. Chúng ta khuyến khích nông dân trồng đậu nành, nhưng phân bón, thuốc trừ sâu thì không hề nhỏ xuống một giọt. Các anh bảo cán bộ kỹ thuật xuống dưới làm gì khi phát hiện ra bệnh mà đành bó tay chịu trận? Về giống các anh có biết toàn bộ số giống Sở đưa về mấy đợt chỉ là giống chết. Có hợp tác xã kiên trì gieo đến ba lần mà không một hạt nẩy mầm…
Cách nói ấy là một gáo nước lạnh tạt vào mặt ông Thuần. Mặt ông đỏ lựng, hai vành tai thâm tím. Ông đứng dậy, hoa tay và không kiềm chế được cơn tức giận nên giọng càng lúc càng nặng trịch khiến người nghe cảm nhận đầy đủ uy lực của ông toát ra trong đó. Và như thế, thường là không ai có ý kiến gì khác nữa. Ông cho rằng kiểu quy tội như vậy là không đúng, là tả khuynh, không thực tế… Rằng những năm trước không thể ứng dụng được vì tình hình thực tế không cho phép, rằng chưa có chủ trương của tỉnh uỷ. Để cho trên đồng ý chủ trương này ông đã tốn biết bao ngày giờ công sức thuyết phục các đồng chí lãnh đạo… Rằng Sĩ không thông cảm trước những khó khăn thuộc về khách quan trong tình hình thực tế hiện nay. Muốn xởi nó đâu phải một sớm một chiều. Không thể nào đòi hỏi hơn được nữa mà quan trọng là chúng ta (đúng hơn là những người như Sĩ) có dốc toàn tâm toàn lực làm hay không?
Sau đó, khi đã trút được những lời lẽ có tính chất áp đảo, cơn giận cũng nguôi đi, bấy giờ ông giám đốc mới trở lại giọng nói bình thường có pha chút tâm tình. Ông nói rằng ông cũng thấy hết những khó khăn, cũng băn khoăn đến mất ăn mất ngủ vì nó nhưng chưa có cách gì giải quyết được. Thì thôi, mình phải ráng, anh em cứ làm đi rồi lãnh đạo sẽ thấy chứ ở đó mà trách thì được cái gì?
* *
*
Lần đầu tiên chứng kiến sự nổi nóng của ông Thuần Hiên có cảm giác rờn rợn. Phải nói là Hiên bị hụt hẫng. Một ông Thuần lạ lẫm đến không ngờ. Đêm đó cứ nhắm mắt lại là cô thấy như in mặt ông Thuần đỏ lựng, vành tai thâm tím đứng lên hoa tay, và giọng nói nặng trịch. Cố xua đi thì nó càng đến. Hiên không thể hình dung được chính ông Thuần đã khóc khi trao chiếc bòng, cuốn sổ tay lại cho Hiên. Những giọt nước mắt ấy đã đọng lại, ngưng tụ trong tâm trí cô. Bây giờ Hiên bị choáng bởi một ông Thuần giám đốc ý thức được đầy đủ quyền lực của mình. Sau cú nốc ao hiểm hóc thì liền xoa dịu để đối thủ (mà là cấp dưới của mình) thấy được sự rộng lượng của bề trên quân tử. Phải nói cú nốc ao ấy hiệu quả vô cùng, có bất lực chăng vẫn là đối với anh chàng Sĩ. Mà ông có hy vọng gì Sĩ sẽ gục. Đánh Sĩ, nhưng hàng lô những anh không phải là Sĩ đã gục. Đó mới là mục đích của ông.
- Tại sao có lúc Minh lại tỏ ra đồng tình với anh mà sau này luôn giữ thái độ im lặng? – Có lúc Hiên đã hỏi Sĩ như vậy.
Sĩ cười xòa:
- Vì còn chỗ đứng, còn con đường tiến thân nữa chứ.
- Nhưng nếu quan điểm của anh đúng, có người ủng hộ vì thấy nó đem lại lợi ích chung thì vấn đề sẽ khác đi chứ. Lãnh đạo sẽ nhìn lại vì đó đâu còn là ý kiến của riêng anh.
Đang theo dõi sự phát triển mầm bệnh trên những bụi lúa mà anh đã cất công mang về từ những địa phương bày la liệt ở hiên nhà, Sĩ ngừng tay nhìn Hiên, vẻ ngạc nhiên:
– Hiên ngây thơ lắm. Với ông Thuần thì biết quá rõ điều đó chớ, nên ông ta đâu để đến mức phải “nhìn lại”. Một khi ông và những người hậu thuẫn của ông đã quy cho anh là người có tư tưởng không ổn định, bị tác động của kẻ xấu và nguy hiểm hơn là người luôn chống đối lãnh đạo, đấu tranh vì động cơ cá nhân thì khó ai đủ kiên trì dũng cảm ủng hộ anh. Vì họ thấy rõ những đề nghị ấy chẳng những không được thực hiện mà còn có hại đối với họ nữa. - Mắt Sĩ ánh lên tia giễu cợt - Sống trung thực khó lắm cô bé ơi!
Lại thêm một điều mới mẻ nữa về ông Thuần. Hiên nghe đầu váng vất. Một cảm giác giống như người lạc giữa khu rừng có trăm ngàn ngả mà không biết những ngả đó sẽ dẫn đi đâu.
Bây giờ Hiên mới vỡ ra, nhớ lại những dư luận vây quanh Sĩ mà có lúc Hiên không để ý, coi như chuyện bình thường. Thật ra thì không bình thường chút nào. Có nhiều lần Hiên nghe Hoàng, Miên, Trọng, nói về Sĩ khi không có mặt anh. Họ cũng đồng ý anh đấu tranh với ông Thuần có nhiều mặt đúng. Chẳng hạn như đòi ông phải quan tâm hơn nữa đến đội kỹ thuật. Nhà cửa phải khang trang hơn, mở rộng biên chế, phòng thí nghiệm phải phong phú hơn để anh em thoải mái trong việc nghiên cứu. Nhưng cách đấu tranh của anh không khéo, không biết tranh thủ ông Thuần, thậm chí còn tỏ ra kiêu ngạo, phản kháng ông. Còn vấn đề Sĩ nêu ra nên cải tiến lề lối làm việc cho có hiệu quả hơn thì Hoàng nói xa nói gần Sĩ có ý đồ muốn chơi trội, giành lấy chức đội trưởng của anh. Dĩ nhiên những điều ấy đã đến tai ông Thuần. Ông càng hằn học hơn với anh. Rốt cuộc sự đấu tranh của Sĩ dẫn anh vào ngõ cụt. Ông Thuần sẽ không thực hiện gì.
Vậy mà có, ông Thuần có thực hiện, dù chỉ ở mức độ rất nhỏ so với đề nghị của Sĩ nhưng tinh vi lắm. Tinh vi đến mức những người trong cuộc cũng khó nhận ra. Kể cả Minh, người có lúc phát biểu đồng tình với Sĩ cũng không hề biết.
Những lúc sau này, không thể im lặng được nữa Hiên đã công khai ủng hộ Sĩ về những đề án khoa học của anh mà cô cho là thiết thực. Bởi vì Hiên có đủ thời gian để nghe, thấy và nhận định. Và Hiên biết việc phát động rần rộ các hợp tác xã trồng đậu nành xuất khẩu gần đây chẳng qua là ông Thuần thực hiện theo sáng kiến của Sĩ cách nay bốn năm. Sĩ cho rằng để chống thế độc canh cây lúa đồng thời phục hồi lại chất màu trong đất nên trồng một vụ đậu nành trên những mảnh ruộng cấy được ba vụ. Điều quan trọng là nó sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Lúc ấy ông Thuần đã kiên quyết bác bỏ, cho anh là kẻ học đòi theo sách vở chứ không dựa vào tình hình thực tế của địa phương. Bẵng đi mấy năm, khi mà không ai còn buồn nhớ thì chính ông Thuần lại chủ trương phát động. Sau đó dư luận sẽ ca ngợi ông là một giám đốc cừ khôi, nhạy bén, biết chớp lấy thời cơ. Và dưới mắt họ, Sĩ vẫn là anh chàng trái tính trái nết, một anh chàng luôn tìm dịp để “quậy” lãnh đạo.
* *
*
Có lẽ thấy Hiên về phòng khoá trái cửa lại thật lâu, sợ đi nắng bị cảm nên Sĩ đã gọi cô. Anh pha một bình trà thật đậm, đặt trước mặt cô mấy viên thuốc:
- Em uống đi. Trà nóng cũng là một phương thuốc trị cảm cúm.
Hiên mỉm cười:
- Em có bệnh hoạn gì đâu mà uống thuốc.
Sĩ thoáng vẻ ngạc nhiên. Anh im lặng một lúc lâu rồi nhìn Hiên với đôi mắt dò hỏi. Không. Hiên sẽ không nói với anh đâu, anh Sĩ. Nhìn gương mặt gầy tọp, đầy góc cạnh của Sĩ cô thấy chạnh lòng. Hiên biết cuộc sống gia đình Sĩ lúc sau này sa sút nhiều lắm. Một vợ ba con chỉ trông cậy vào nửa công vườn. Đồng lương của Sĩ vốn khiêm tốn vẫn phải san sẻ về nhà cũng không đỡ vớt phần nào sự lam lũ của vợ. Đã vậy trong công tác anh gặp lắm chuyện phiền hà. Hiên thấy mình không nên gây thêm cho anh mối lo nghĩ, bực tức nào nữa. Thầm mong cái dư luận không mấy tốt đẹp về quan hệ giữa Sĩ với Hiên sẽ không đến tai anh. Hiên đủ sức gánh chịu một mình. Hiên chỉ thương cho vợ anh. Một khi vợ Sĩ nghe được chị sẽ nghĩ sao về Hiên. Rồi chị sẽ hiểu. Hiên tin vợ Sĩ là người hiểu hơn ai hết về chồng mình. Nhớ lần gặp chị, nhân lúc vui miệng chị kể cho Hiên nghe câu chuyện về sự băn khoăn của những người quen biết đối với Sĩ. Nhân một bữa ba anh cùng ông già kháng chiến ngồi uống trà bàn về nhiều chuyện, nhiều người mà hai ông quen biết, đột nhiên ông bạn hỏi ba anh:
- Thằng Sĩ nó thường về không anh?
- Thỉnh thoảng nó cũng về.
- Tôi nghe nói đâu lương hướng của nó tới năm nay mà còn thấp lắm. Trong số bạn bè cùng lứa chỉ có nó là tệ nhứt. Đâu anh rà lại coi nó có bị vấn đề gì không? Chứ có lý nào như vậy. Tôi nghi là nó có vướng vô mấy cái vụ tham ô, móc ngoặc gì đó rồi bị kỷ luật quá!
Thoạt nghe Hiên thảng thốt nhưng vợ Sĩ thì thản nhiên. Kể xong chị cười vô tư như vừa kể chuyện vui của ai đó chứ không phải của chồng mình. Và cũng thật lạ, chị cũng không hề hỏi Hiên nó có thật đến mức độ nào.
Chuyện ấy Sĩ không hề kể Hiên nghe nhưng cô hiểu đó là nỗi đau âm ỉ ở lòng anh.
- Em hiểu sao về cái dư luận ấy? - Sĩ hỏi đột ngột sau nụ cười châm biếm.
Hiên giật mình:
- Dư luận nào?
- Cái dư luận mà ông Thuần vừa nói với Hiên.
Hiên hoang mang thật sự:
- Sao anh biết?
Sĩ cười thật lớn đến đỏ cả mặt:
- Xem mặt bắt hình dong. Bộ em tưởng nó kín đáo lắm sao? Dư luận mà!
Hiên bưng ly trà đặc quánh hớp một ngụm để giấu bớt vẻ lúng túng. Cô nghe cổ mình đắng nghét. Im lặng có đến mấy phút. Sĩ hỏi giọng đã bớt giễu cợt:
- Hiên có muốn dìm dư luận đó xuống không? Cũng chưa đến mức ầm ĩ đâu!
- Cách nào? Em phải đi thanh minh với từng người à?
- Cần gì. Trong những lần anh “choảng” với ông Thuần hay với Hoàng sắp tới, Hiên chỉ việc im lặng.
“Cũng như Minh sao?”. Người Hiên bỗng toát mồ hôi. Hiên cảm thấy tự ái trong ánh mắt thoáng vẻ châm biếm của Sĩ nhưng cô cũng kịp nhận ra cái bẫy của ông Thuần.
“Sống trung thực khó lắm cô bé ơi!”.
Câu nói của Sĩ lại đến với Hiên. Nó vừa là một triết lý của cuộc sống được đúc kết từ cuộc đời anh, vừa là điềm báo trước đối với Hiên để cô tự chọn lấy một cách sống. Bây giờ Hiên thấy không còn tự ái bởi giọng nói giễu cợt thoáng vẻ châm biếm của Sĩ. Có lẽ cách nói ấy chỉ có ở những con người dày dạn, chịu đựng nhiều nỗi đau đến mức chai lì.
Sĩ đã nói đúng.
Thái độ im lặng lúc này sẽ có lợi cho Hiên biết bao nhiêu. Im lặng là cách ứng xử tế nhị nhất đối với dư luận về Hiên. Nó sẽ không còn lý do gì để bùng nổ hơn nữa. Cũng đâu phải là Hiên quay lưng lại với Sĩ. Im lặng là cách tuyên bố Hiên không đứng về một bên nào vì thấy ai cũng có mặt đúng, mặt sai. Tôi không thoả hiệp với anh cũng không hẳn là tôi chống lại anh!... Mọi sự rồi ổn thoả. Với ông Thuần thì tình cảm của ông đối với Hiên vẫn tràn đầy.
Chỉ nghĩ vậy thôi mà Hiên thấy ghê tởm với chính mình. Mày cũng hèn nhát, tầm thường như bao kẻ mà mày đã lên án thôi, Hiên ơi. Vì cái gì? Địa vị? Con đường tiến thân mà ông Thuần đã trải sẵn trước mắt hay chỉ là sự yên thân. Nhưng dù thế nào đi nữa thì mày cũng là kẻ đã đánh mất chính mày. Mày nghĩ rằng im lặng sẽ ổn thoả sao? Không, nó sẽ không bao giờ ổn thoả với chính lương tâm mày. Bởi vì khoa học có thể đúng hoặc sai, và tất yếu nó sẽ đi đến sự loại trừ.
- Ái cha cha… chậc, đường với sá!
Ông thuần khẽ xuýt xoa khi chiếc xe du lịch nặng nhọc trườn qua những ổ gà. Cú xóc quá nặng làm Hiên bứt khỏi dòng suy nghĩ. Cô nhìn về phía hai bên ruộng lúa xanh rờn mới hay xe đã vào gần hợp tác xã nông nghiệp Bảo Tân. Ông Thuần đưa tay chỉ khu vườn nằm trong mí đồng phía trái:
- Hồi chưa chuyển lên rừng miền Đông, có lúc chú và ba cháu bị tụi nó “quần” ở đây suýt chết. Ừ mà hồi đó hai anh em “ăn rơ” lắm nghe! Ba cháu với chú thường giống nhau ở cách nhận định tình hình cũng như phương án tác chiến. Có lẽ thân nhau một phần là vì vậy!
Rồi ông quay lại Hiên cười đôn hậu:
- Nghĩ cũng lạ, hồi đó có ai ngờ sau này mình sẽ cùng con người bạn ấy “chiến đấu” chung trên một mặt trận hoàn toàn khác lạ này. Nông nghiệp cũng là một mặt trận chứ sao?
Hiên mỉm cười, cô muốn nói với ông Thuần: “Đồng ý cháu với chú cùng chiến đấu chung trên một mặt trận. Nhưng chưa hẳn trong phương án tác chiến hôm nay cháu sẽ tuân thủ tuyệt đối như người lính trong chiến tranh đâu. Và con đường mà cháu đi sẽ đầy những ổ gà, gai góc nhưng cháu tự tin ở bước chân mình”.
Xe phải dừng lại đầu xóm vì không thể qua được những cây cầu khỉ chông chênh. Còn một quãng nữa mới tới văn phòng Ban quản trị hợp tác xã Bảo Tân, hợp tác xã khá nhất tỉnh vừa được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Ba. Và hôm nay là ngày lễ đón nhận.
Ông Thuần vừa đi vừa ngắm những vạt ruộng bên đường. Cái dáng đi còn quá nhanh nhẹn của ông làm Hiên thầm thán phục. Thỉnh thoảng ông đứng lại nhìn đến say mê và xuýt xoa khen ngợi trước một khoảng ruộng ông cho là lý tưởng. Nhưng với cặp mắt “nhà nghề” của Hiên thì trong số những khu ruộng ấy một ít có “vấn đề”. Vì không muốn ông mất vui nên Hiên chưa tiện nói. Đột ngột, ông Thuần hỏi Hiên:
- Cháu thử đoán xem thửa này chừng trổ sẽ là bao nhiêu?
Ông Thuần đứng lại bên vạt ruộng lúa xanh rờn đang độ đứng cái.
Hiên ngồi xuống đưa bàn tay khẽ vạch bụi lúa như thể xác định một lần nữa sự phát hiện của mình:
- Nó sẽ thất trắng nếu không trị ngay từ lúc này chú à!
Ông Thuần sửng sốt:
- Hả?
- Vì nó bị một loại tuyến trùng ký sinh chích trên lá non ngay từ hồi còn nhỏ. Chú xem nè. Những dấu chấm trắng li ti chỉ như đầu mũi kim đâm này sẽ là nguyên nhân làm cho bụi lúa lúc ôm đòng lá xoắn lại, không trổ được.
- Sao nó vẫn phát triển bình thường?
Hiên cười:
- Thậm chí phát triển rất tốt nữa. Bởi vậy không thể ai cũng nhận thấy. Nguy hiểm là ở đó.
Mặt ông Thuần thoáng băn khoăn, hụt hẫng. Ông lẩm bẩm một cách mệt mỏi.
– Ờ… ờ, chỉ là những chấm nhỏ như đầu mũi kim…

8.1987



Tác giả giữ bản quyền. Chọn từ tập truyện ngắn “Tên một loài cỏ” của Nguyên Tùng
N.T (Bến Tre)

Mặt trận phía sau - bút ký của NGUYÊN TÙNG

Tôi tin rằng cho đến hôm nay các nhà quân sự Mỹ cũng không ngờ khi họ ồ ạt đổ vào miền Nam Việt Nam hàng loạt vũ khí tối tân để trang bị cho ngụy quyền lúc đó, có một vài loại chỉ trong thời gian ngắn người chiến sĩ giải phóng mà gốc là những anh nông dân đã chế tạo được bằng những dụng cụ thô sơ với đầy đủ mọi tính năng của nó. Và trong hàng triệu quả bom đổ xuống đất nước này có không ít những quả biến thành nguồn nguyên liệu để người cách mạng tạo ra các loại vũ khí chống lại chính chủ nhân của chúng.

Tôi đem suy nghĩ này nói với anh HaiMo - người chiến sĩ thi đua trong những năm chiến tranh do anh chế tạo được cây súng lục Mỹ tự động. Anh nói sau một lúc trầm ngâm:

- Có lẽ nó đúng với câu của ông bà ta xưa: “Trong cái khó ló cái khôn”. Nhưng qui luật chiến tranh lắm khi nghiệt ngã. Ta buộc phải đánh đổi nó bằng một giá quá đắt. Tính ra lính Công trường Ba Tri có mức hy sinh cao hơn địa phương quân lúc đó.

Rồi theo dòng hồi ức anh đưa tôi về những năm tháng mà anh và đồng đội của mình chỉ tính thời gian sống từng ngày, từng giờ thậm chí từng phút. Chính tinh thần sẵn sàng hy sinh, sự thông minh, quả cảm ấy đã góp phần rất lớn cho công cuộc giải phóng dân tộc.

Có thể nói rằng trong chiến tranh chống Mỹ, vai trò của Công trường chế tạo vũ khí ở địa phương là hết sức quan trọng. Nó làm tiêu hao sinh lực địch, gây cho chúng nhụt chí, hoang mang về tinh thần. Công trường chế tạo vũ khí huyện Ba Tri là một Công trường mạnh trong tỉnh lúc ấy.

Còn nhớ vào thời gian đầu cuộc kháng chiến và ngay chính trong những ngày Đồng Khởi, lực lượng giải phóng phải chịu gian khổ, thiếu thốn mọi bề. Ở một huyện miền biển như Ba Tri sự thiếu thốn ấy càng khắc nghiệt hơn. Thiếu gạo, thiếu nước ngọt... nhưng cái thiếu quan trọng nhất là thiếu vũ khí, đạn dược. Sự chi viện từ trên xuống chỉ có mức độ, nhiều xã, nhiều ấp thậm chí chưa được cây súng nào dù chỉ là súng trường. Nhưng thời thế buộc ta không thể khoanh tay. Những cây súng được làm bằng bụp dừa nước, những khẩu “đại liên” bằng thân cây chuối cộng với tiếng nổ ống lói, ta cũng công đồn, lấy bót để thu về vũ khí, đạn dược từ trong tay địch. Chiến tranh càng lúc càng leo thang. Mỹ đã tung vào chiến trường miền Nam đủ mọi khí tài chiến tranh: Trên trời thì trực thăng, phản lực; mặt đất rầm rập tiếng xe GMC, xe tăng M.113; dưới nước thì hải thuyền, hạm đội... cùng mọi chiêu bài, chiến thuật nhằm xóa sạch lực lượng quân Giải Phóng.

Tình thế ấy, việc tự chế tạo vũ khí chống lại kẻ thù là cấp thiết.

Người chỉ huy Công trường chế tạo vũ khí của huyện Ba Tri vào những năm sáu mươi là đồng chí Vạn Thành. Đó là một con người tài năng và đầy cá tính. Xuất thân là thợ kim hoàn của tiệm vàng Hữu Hạnh - một tiệm vàng lớn ở chợ Ba Tri - vào kháng chiến tay nghề ấy đã góp phần thiết thực cho việc chế tạo vỏ đạn, trái nổ. Bản tính ông thích tìm tòi, nghiên cứu nhưng cũng chính bản tính ấy từng nhiều lần đem đến cho bạn bè, đồng chí những trận cười thoải mái đầy vẻ nể phục. Chiếc radio ba band của vợ sắm cho, chỉ mấy hôm là ông tháo banh ra rồi hàn, rồi gắn, tháo bớt linh kiện này, lại thêm vào chi tiết nọ. Mới tuần này thấy ông xài pin đại, tuần sau đã thay bằng pin trung... Vậy mà mỗi lần được “chỉnh trang” như thế, chiếc radio lại có thêm ưu điểm. Trong sinh hoạt ông thích đơn giản, gọn nhẹ. Tấm vải ni lông dầu, chung quanh được may kèm thêm vải dù trái sáng làm thân vách, ban ngày thu lại làm võng nhưng đêm đến mở ra nó chính là chiếc mùng ông ngủ. Mùng mền cắt ngắn, tinh giản đến mức không một chút thừa. Ông nói vui nhưng cũng rất thật: “Công dụng của chúng là chống muỗi và đắp ấm. Cắt bớt đi chẳng những không mất giá trị ấy mà còn gọn gàng hơn”. Bởi vậy mỗi khi đi công tác xa, chiếc bòng của ông nhẹ tênh.

Rồi một ngày ông đã gây cho cả Công trường sự bất ngờ đầy sung sướng và niềm vui ấy nhanh chóng lan sang Huyện ủy, đó là việc ông chế tạo thành công cây súng lục Mỹ. Tuy còn một chi tiết chưa hoàn thiện là ổ đạn không tự xoay sau khi bắn nhưng đây là bước ngoặt quan trọng của Công trường huyện Ba Tri.

Thời điểm này giặc ráo riết xây dựng hàng rào ấp chiến lược để đẩy bật lực lượng giải phóng ra khỏi thôn xóm, cách ly với dân. Mặt khác chúng bắt thanh niên sung vào lính bảo an, lính Thánh nghiệp (con em gia đình theo đạo Công Giáo) rồi chủ trương quấy nhiễu, đàn áp bà con nhất là nững gia đình có người theo cách mạng. Đồn bót mọc lên khắp nơi. Phong trào cách mạng lâm vào tình thế đầy khó khăn. Chủ trương lớn của Huyện ủy là phải nhanh chóng phá vỡ ấp chiến lược, chuyển xoay từ thế bị động sang thế chủ động, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Trước nhiệm vụ ấy, Công trường được mở rộng, tăng cường thêm lực lượng từ các tổ sản xuất vũ khí ở xã lên, khẩn trương chế tạo mìn gài, trái phá chống lại âm mưu của địch, hỗ trợ cùng lực lượng quần chúng đang trong khí thế ngày càng dâng cao. HaiMo được rút từ tổ chế tạo vũ khí xã Bảo Thạnh lên Công trường huyện trong những ngày này. Đối với anh thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi đầy nhiệt huyết và say mê nghiên cứu sáng tạo ấy được cận kề người thủ trưởng tài năng giống như cá gặp nước. Nhiều đêm mất ngủ để cuối cùng anh tìm ra được chìa khóa hoàn thiện cây súng lục Mỹ tự động trên cái nền qui trình chế tạo của ông Vạn Thành. Càng lúc càng đẹp hơn. Người thủ trưởng vui mừng vì đã có người kế thừa. Trung bình một tháng HaiMo hoàn thành một cây. Nòng súng được chế bằng cốt giữa của xe đạp, ổ đạn được tiện và khoan từ cây láp máy dầu chạy đò. Với sáu lỗ của ổ đạn, anh khoan bằng khoan van-đo chỉ trong một giờ là xong. Còn thân súng anh cùng đồng đội phải lần mò ra tận cầu Vĩ gỡ lấy những cây bát sắt về tự chế. Với thành tích này, hai Mo đạt được danh hiệu Chiến sĩ thi đua của tỉnh, được bằng khen của Quân khu.

2

Song song với sự thành công ấy, Công trường đã sản xuất, chế tạo được hàng loạt những loại mìn, trái đánh đồn và phá ấp chiến lược. Từ súng ngựa trời, đạp lôi bằng xi măng, lựu đạn vỏ ve chai, mìn hộp cá mòi anh em tự chế trong những ngày đầu Đồng Khởi bây giờ đã làm được mìn DH8, DH10, trái Bêta, mìn định giờ, mìn tự động đánh xe theo kiểu Trung Quốc. Đặc biệt các anh đã nắm được nguyên lý chế tạo loại trái phá đánh đồn MTU phá hàng rào sắt ấp chiến lược rất hiệu quả. Phía trong trái phá có một lõm trống hình chóp như chiếc nón lá, chính nó sẽ tạo lực công phá khi trái nổ. Trước đây chóp này chế bằng nhôm, giờ được thay bằng đồng đỏ. Chất liệu ấy có sức công phá gấp nhiều lần, làm chảy cả sắt thép. Nhờ vậy chỉ trong thời gian ngắn, được sự hỗ trợ của loại trái phá này, anh em bộ đội, du kích cùng lực lượng quần chúng địa phương đã tiêu diệt, bứt rút hàng loạt đồn bót, phá rã gần hết hàng rào ấp chiến lược. Nhớ lại những ngày đầu, bà con xã Bảo Thạnh chỉ dùng tay để bẻ gãy trụ sắt, sau có kềm cộng lực do cơ sở là học viên trường công binh ngụy cung cấp để cắt dây kẽm gai, giờ lại có thêm trái phá, mới thấy phong trào cách mạng đã dần giành thế chủ động. Trước thực trạng ấy, địch càng ra sức đánh phá vào căn cứ của ta. Để bảo toàn và giữ công việc chế tạo vũ khí được liên tục, Công trường chia làm ba tổ đóng ở ba khu rừng: tổ Hóa Chất vẫn đóng tại căn cứ Rạch Vọp như từ trước đến nay. Tổ Nguội chuyển xuống Cồn Nhàn thuộc xã Bảo Thạnh. Còn tổ Đúc thì đóng tại căn cứ Châu Bình thuộc huyện Giồng Trôm. Tuy mỗi tổ có chuyên môn riêng nhưng do yêu cầu chiến trường và phòng tình huống địch ra sức khống chế, cắt đứt giao thông nên mỗi nơi đều có một bộ phận sản xuất theo qui trình khép kín để chế tạo hoàn thiện những quả mìn, đạn, với số lượng đủ để cung ứng cho hoạt động của chiến trường trên từng địa bàn bị chia cắt.

Vũ khí của Công trường càng lúc càng hiện đại, gây cho địch nhiều phen khiếp đảm. Chúng đâu ngờ rằng đó là do khối óc, bàn tay của những thanh niên mới ngày nào còn cắp sách tới trường tiểu học trong làng, hoặc cầm cuốc, cầm cày trên đồng ruộng. Vậy mà khi bắt tay vào chế tạo vũ khí, ở lãnh vực nào cũng có người xuất sắc. Tổ Nguội chuyên chế tạo súng, làm vỏ đạn, trái có HaiMo, Ba Cất; tổ Hóa Chất, chế tạo hột nổ có Ba Yển, Tư Bự; tổ Đúc có Năm Châu, Bảy Định...

Trong trận đánh bót Giồng Nhàn các anh đã chế tạo thành công loại mìn định giờ đặt trong thùng dầu lửa Con Sò loại 20 lít. Thùng được chia làm ba ngăn: ngăn trên là dầu lửa, giữa chứa thuốc nổ TNT, còn ngăn dưới được lắp pin, đồng hồ và kíp nổ.

Đêm đó bộ đội địa phương đưa được hai “thùng dầu” vào sát hàng rào bót rồi tổ chức một trận công đồn không thành “vì bị nhiều thương vong” nên rút đi. Sáng, lính trong đồn ra kiểm tra thấy máu me loang đầy mặt đất. Chúng không ngờ được đó chỉ là hiện trường giả do ta bày ra bằng máu của mèo và chó. Nhưng tên lính hí hửng mang “chiến lợi phẩm” vô bót và nhận định với Sếp:

- Việt Cộng tưởng ngon ăn nên đem dầu định đốt rụi bót mình, không ngờ gặp phải toàn những tay thiện xạ, vội tháo chạy chỉ kịp mang chiến thương, bỏ lại hai thùng dầu lửa còn nguyên vẹn.

Tên trưởng đồn Chí khét tiếng ác ôn và dày dạn trận mạc, nhìn hai thùng dầu mới toanh, mắt ánh lên vẻ ngờ vực rồi phát hoảng. Y vội khoát tay:

- Đ.m. mau đem ra khỏi đồn. Nó nổ chết mẹ hết bây giờ!

Những tên lính không tin nhưng đâu dám cãi lời Sếp, chúng uể oải khiêng ra đặt ngoài vòng rào rồi vào đồn bắn ra. Một tiếng nổ long trời phát ra từ “thùng dầu”, hàng tháng sau bọn chúng cũng chưa kịp hoàn hồn.

Quả mìn còn đúng hai mươi phút nữa mới tự phát nổ. Nếu tên Sếp bót không có cái đầu của Tào Tháo thì...

Vậy là trận đánh đồn Giồng Nhàn không thành công. Tuy nhiên về phía Công trường là một dấu mốc quan trọng. Tiếng nổ từ bót Giồng Nhàn, ở căn cứ Rạch Vọp còn nghe vang dội khiến anh em tự tin hơn trong việc nghiên cứu, chế tạo những loại vũ khí có sức công phá lớn. Chính vì vậy nên năm 1966 Công trường Ba Tri sẵn sàng nhận lãnh nhiệm vụ trọng đại là chế tạo hai quả thủy lôi để đánh đội hải thuyền ở vàm Tiệm Tôm do tổ chức đặc công thủy của Hoàng Lam đặt hàng. Vỏ trái hình khối chữ nhật được gò bằng tôn ba ly và năm ly, có sức chứa 61kg thuốc TNT, các anh phải làm trong mười ngày mới xong.

Vàm Tiệm Tôm là cửa ngõ quan trọng không những về mặt kinh tế mà còn về mặt quân sự của huyện Ba Tri. Đó là đường vào cảng cá duy nhất của ngư dân và cũng là con đường huyết mạch để sang Thạnh Phú, nơi có nhiều cơ quan tỉnh đóng.

Những chiếc hải thuyền như những con quái vật ngày đêm rình mò, săn đuổi từng chiếc ghe tàu của ngư dân mỗi lần ra biển, cũng như mỗi chuyến trở về.

Đêm ấy trời không trăng. Mặt sông chìm trong bóng tối. Những chiếc hải thuyền sáng choang ánh điện, đậu rời rạc mỗi chiếc cách nhau một khoảng khá xa. Sau khi xác định vị trí, Hoàng Lam bè quả bộc phá trôi theo con nước ròng tiến về phía con tàu thứ nhất.

Có sự chênh lệch so với thực tế trinh sát là mọi khi nơi đó thường có hai hoặc ba chiếc đậu liền nhau. Không hiểu do chúng cảnh giác hay đi tuần tiễu chưa về mà chỉ còn một. Anh quyết định sử dụng một trái. Điều hy hữu là khi máng được quả thủy lôi vào mạn tàu, bỗng từ xa một chiếc khác đang ùn ùn tiến lại. Hoàng Lam cố thả dây thật nhanh. Dù vậy, chỉ mới cách khoảng ba chục mét, chiếc tàu kia đã áp sát vào chiếc thứ nhất, vô tình ép quả bộc phá ở giữa. Cơ hội ngàn năm, dù có nằm mơ cũng không ngờ được. Một quyết định táo bạo, không thể bỏ lỡ dù chỉ trong tích tắc. Anh châm điện. Ánh chớp khổng lồ xé toạc màn đêm cùng tiếng nổ kinh thiên động địa. Và cũng chỉ trong tích tắc, nơi những ánh điện sáng choang ấy giờ tắt ngấm. Sự chấn động dữ dội do khoảng cách quá gần đã làm Hoàng Lam ngất xỉu trên phao.

Nhưng nếu số phận của hai chiếc tàu chiến chính tông “Made in U.S.A” ấy đã an bài như vậy thì không có gì đáng bàn thêm. Có điều chuyện xảy ra sau đó dù cho ai được trời phú cho bộ óc khôi hài vĩ đại cỡ Sạc-lô cũng không thể nghĩ ra.

Số là cách hai ngày sau lính quận vớt từng mảnh xác tàu lên chở về Tiệm Tôm để... “triển lãm”. Dân chúng ùn ùn tới xem. Bọn lính chia nhau đi len lỏi vào chỗ đông người vừa giữ trật tự, vừa luôn miệng thuyết minh: “Đó là tàu của Việt Cộng vừa mới bị đánh”. Có những tiếng xì xầm: “Trời, Việt Cộng mà có tàu lớn dữ. Mấy ổng mạnh quá, hén!”. Bỗng có mấy ông lão ngư dân chỉ vào xác tàu: “Mấy ông nói sao chứ hai chiếc hải thuyền nầy bữa hổm rượt bắn tụi tui nè!”. Đám đông chợt ồ lên cười như vỡ chợ.

Không hiểu người Mỹ nghĩ gì khi biết được chuyện này?

3

Và người Mỹ sẽ nghĩ gì khi hiểu rằng những hóa chất có tính quyết định để chiến sĩ Công trường chế tạo ra các loại vũ khí cũng có nguồn gốc từ nước Mỹ? Họ sẽ không ngờ ở một đất nước nhỏ bé và còn lạc hậu này, chỉ có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc được hun đúc hàng ngàn năm qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược mới khiến những người chiến sĩ giải phóng sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình giành lấy từng gam thuốc nổ từ những quả bom mà họ thả xuống hủy diệt xứ sở này.

Để có thuốc nổ phục vụ cho chiến trường lúc ấy không có cách nào khác là phải cưa những trái bom lép. Công việc nguy hiểm luôn đánh đổi bằng tính mạng càng cực kỳ nguy hiểm hơn khi đứng trước một loại bom pháo mới mà các anh chưa rõ nguyên lý vận hành của ngòi nổ phía bên trong. Và sự thành công đã không hiếm trường hợp phải đánh đổi bằng máu của những con người đầy quả cảm.

Không ai quên được vụ nổ quả bom 250 cân Anh ở xã Châu Bình vào năm 1968. Ba anh chiến sĩ Công trường cưa quả bom lép đã giáp mí, đường cưa tới lớp hắc ín bọc chung quanh khối thuốc TNT nhưng không cách gì tách ra được vì thuốc đóng thành một khối cứng. Các anh dùng đục sắt đục giữa đường cưa để tách ra. Không ngờ búa gõ vào đục chỉ mấy cái thì bom nổ. Nhặt nhạnh xương thịt các anh chưa đầy một rổ nhỏ.

Từ kinh nghiệm xương máu ấy, sau này khi cưa giáp mí quanh thân bom, để tránh tạo nguồn lửa do đục vỏ gây ra, Ba Yển bảo anh em đặt một khúc gỗ to nằm ngang trên mặt đất rồi dựng đứng quả bom, sao cho khi ngã phần lằn cưa sẽ cấn xuống khúc gỗ. Anh lệnh anh em tìm nơi ẩn nấp cách quả bom đến độ an toàn, chỉ mình anh ở lại. Đây là một thử nghiệm, nếu không thành công thì chỉ mình anh hy sinh. Quả bom bị xô ngã cấn khúc gỗ gãy làm đôi. Thành công! Ở mỗi trái bom 250 cân Anh ấy ta có được 80 kg thuốc nổ.

Rồi năm 1969 khi Công trường chuyển sang rừng Bình Đại anh em gặp phải quả bom có hột nổ hai đầu. Các anh đã tháo được nắp nhựa chắn kíp nổ tự động phía đuôi bom nhưng chưa kịp rút ra thì bom nổ. Gốc mấm to rợp bóng trên khoảng đất rộng bằng phẳng nơi các anh ngồi vừa mới đây, giờ đã biến mất, thay vào đó là cái hố sâu hoắm khổng lồ, nham nhở.

Nhiều lúc anh Hai Mo - thủ trưởng Công trường lúc ấy thay ông Vạn Thành được trên rút về làm Huyện đội phó - điểm lại quân số hy sinh của Công trường mà giật mình. Nó cao hơn tỉ lệ hy sinh của anh em địa phương quân. Hầu như mỗi lần đứng trước một loại bom mới là có hy sinh. Anh Định, anh Khanh, anh Chu, anh Rô, anh Xương... vì bom 250 cân Anh, anh Mong bị quả bom bi. Còn anh Long hy sinh vì trái bom long mà cho đến nay các anh cũng chưa biết được cách cấu tạo của nó. Trái bom tròn giống trái banh tơnit, không nhìn thấy dấu vết chỗ kíp nổ. Biết đây là loại mới phản lực đã bỏ xen trong lúc thả bom tấn, các anh nhặt một quả lép đem về Công trường nghiên cứu. Lúc chuyển xuống ghe chở về không sao nhưng khi người dưới ghe chuyền lên cho anh Long đứng trên bờ đón lấy thì nó phát nổ. Hôm ấy nước ròng, người dưới ghe có khoảng cách thấp hơn nhiều so với bờ nên được an toàn.

Mỗi lần đồng đội hy sinh HaiMo lại có suy nghĩ: thôi, từ nay sẽ không tháo bom nữa. Nhưng rồi thực tế chiến trường, nhu cầu vũ khí, đạn dược càng lúc càng lớn nếu không tháo bom thì lấy thuốc đâu để sản xuất? Vậy là các anh tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, thận trọng hơn trước những loại bom pháo mới chưa rõ cách cấu tạo.

Hầu như mỗi chiến sĩ của Công trường đều có ý thức nghiên cứu, phát huy sáng kiến. Chỉ trong thời gian ngắn, anh Xuân, anh Chiến đã tìm ra được cách cấu tạo kíp nổ tự động của bom 250, 500 cân Anh. Từ đó về sau việc tháo bom được an toàn, không xảy ra sự cố đáng tiếc nữa. Ba Yển nghiên cứu chế tạo được kíp nổ tự động trong các loại trái gài, và chỉ riêng anh đã tự tháo gần ba trăm trái bom lớn nhỏ. HaiMo ngoài việc chế tạo súng lục, còn nổi tiếng là tay thợ nguội giỏi nhất Công trường. Đặc biệt anh nghiên cứu sửa thành công súng Cạc-bin M1 bắn từng viên thành M2 bắn được nguyên băng. Anh Năm Châu - Bí thư chi bộ Công trường, phụ trách tổ Đúc - đã chế tạo được khuôn đúc vỏ và đầu lựu đạn chất lượng tương đương Công trường quân khu.

4

Dưới nhan đề “Thua trận ở Việt Nam là điều may mắn cho nước Mỹ?” đăng trên tờ The Boston Sunday Globe số ra ngày 30-4-2000, nhà báo Mỹ nổi tiếng Neil Sheeham viết: “Người Việt Nam là một dân tộc không bao giờ chấp nhận một ách đô hộ nào của nước ngoài. Họ thể hiện tinh thần bất khuất ấy bằng việc sẵn sàng kháng chiến chống chúng ta đến cùng, sẵn sàng trả bất kỳ giá nào, kể cả máu, để đất nước họ được thống nhất và độc lập”(*).

Cuối cùng thì họ cũng nhận ra chân lý. Nhưng đó là về phía những người Mỹ chân chính. Còn với các nhà cầm quyền, với những người chủ xướng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam? Cho dù họ có nhận ra cái chân lý ấy thì dân tộc ta đã phải trả bằng giá máu của một triệu rưỡi liệt sĩ. Và trong số một triệu rưỡi liệt sĩ đó có không ít những sự hy sinh quả cảm của chiến sĩ Công trường chế tạo vũ khí.

Dẫu biết rằng bất cứ sự hy sinh nào cho nền độc lập của dân tộc cũng đều là anh hùng, cao cả nhưng đối với sự hy sinh của người chiến sĩ Công trường càng gây trong ta ấn tượng sâu sắc, thiêng liêng. Bởi khi đối mặt với quả bom mạng sống của các anh chỉ có thể tính được từng giây. Rất nhiều người sau tiếng nổ đã không còn chút dấu tích nào của xương thịt.

Có lẽ đó là sự cảm kích sâu kín của những cựu binh Công trường chế tạo vũ khí huyện Ba Tri nên trong câu chuyện các anh không kể về mình mà luôn nhắc nhở đến chiến công và sự hy sinh của đồng đội. Đặc biệt cái chết của người thủ trưởng cũ - đồng chí Vạn Thành - đã để lại trong lòng các anh Năm Châu, Hai Mo, Ba Yển... ấn tượng cao đẹp.

Các anh kể rằng:

Từ hội nghị Quân khu ông Vạn Thành theo ngã Thạnh Phú sang Thới Thuận để về căn cứ Rạch Vọp. Nhưng ở Thới Thuận lên Rạch Vọp không thể đi bằng đường sông như mọi khi vì đêm ấy trăng sáng quá và ngoài sông hải thuyền dày đặc. Vả lại chiếc xuồng do ông thiết kế không có ở căn cứ Thới Thuận. Ông đã từng vượt sông bằng chiếc xuồng độc đáo ấy địch chưa lần nào phát hiện. Đó chỉ là chiếc tam bản bình thường nhưng giữa khoảng trống của những chiếc cong ông gài chặt những thùng nhựa 4 lít loại dẹp đậy kín nút (thay cho những chiếc phao), trên cong đóng ván sạp. Khi đến gần đồn địch ông nhận xuồng đầy nước. Lúc ấy xuồng như chiếc phao ngập nước lờ đờ trôi, không nổi hêu nhưng cũng không chìm được. Nhiều lúc ông đã chuyển vũ khí bằng cách này. Người ngồi trong ghe nước ngập đến ngực chỉ việc bơi bằng hai tay để lái cho nó luôn ở vị trí giữa sông để giặc trong đồn khó phát hiện. Xuồng có thể chở được bốn, năm người. Khi qua khỏi đồn chừng trăm mét thì lắc nước ra cho xuồng nổi.

Hôm ấy ông đi bộ theo đường dây cùng bốn đồng chí khác. Không may, đoàn lọt vào bãi mìn của tụi biệt kích. Các đồng chí trong đoàn đều hy sinh. Ông bị thương. Có lẽ biết mình không sống được khi đồng đội đến và địch có thể phát hiện, ông vẫn còn đủ bình tĩnh lấy ni lông trải lên đất để nằm, gối đầu lên chiếc ba lô và tự băng bó những vết thương. Rồi bằng hơi sức cuối cùng, ông đã tháo cây súng lục do mình tự tay chế tạo lúc ở Công trường quăng vãi vào lùm bụi, mỗi nơi một chi tiết, để địch không tài nào tìm thấy.

Bây giờ ta đang sống giữa thời đại bùng nổ thông tin, ngập tràn phim ảnh phô diễn tối đa trí tưởng tượng của nhân loại nhưng tôi tin chưa ai nghĩ ra được khoảnh khắc đón nhận cái chết ở một con người như vậy. Trong sự đau đớn tột cùng của thể xác dần đi vào cõi chết mà người chiến sĩ giải phóng vẫn ung dung, tự tại. Tư thế hy sinh ấy là tư thế của bậc anh hùng.

Phải chăng từ những câu chuyện như vậy mà Neil Sheeham đã đúc kết sâu sắc về tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Tôi nghĩ chính đó mới là vũ khí mạnh nhất để dân tộc ta làm nên chiến thắng.


Chú thích:

(*) Thái Bá Tân dịch (Văn nghệ HNV Việt Nam số ra ngày 29-7-2000)

Tác giả giữ bản quyền. Chọn từ tập ký "Chuyện kể trên dòng sông" của Nguyên Tùng

N.T (Bến Tre)

Bâng khuâng hương tết

"Quê mình những ngày cuối năm trời lạnh lắm phải không mẹ?". "Ừ, lạnh mấy tuần rồi con à". "Mẹ chuẩn bị gì cho cuối năm chưa?". "Đầu tháng chạp là những ngày chạp mả, mẹ lo giẫy mả trước".

Cuộc trò chuyện ngắn với mẹ làm nó nhớ những ngày tháng chạp ở quê, gió mang theo hương tết với hoa mai và trầm hương từ mái chùa đầu làng làm nao nao lòng người. Trở mình, nó quấn vội tấm chăn, “nướng” thêm một tí vì là cuối tuần. Đúng hơn là nó muốn nằm để “lắng nghe mùa xuân về”.

“Xuân xuân ơi xuân đã về…” - Ảnh: Trung Uyên

Phòng trọ bên cạnh, anh bạn dậy sớm mở đĩa nhạc xuân mới sưu tầm được nên càng nghe mùi tết rõ hơn. Bài hát với mấy câu mở đầu quen thuộc: “Xuân xuân ơi xuân đã về…” làm nó thêm nôn nao mong ngày về quê. Nó mường tượng cảnh ở quê nó mùa này người ta đón tết với bánh tráng, buồng chuối, con gà và cả những… lo toan.

Người ở quê sợ nhất là nợ năm cũ kéo sang năm mới vì như thế sẽ không may mắn. Rồi những bữa chạp mả, làng đông như trẩy hội. Từ làng trên đến làng dưới, thanh niên cùng nhau vác cuốc đi giẫy mả cho những nấm mộ vô danh rồi về cúng ở làng. Nhớ ơi là nhớ.

8g sáng, nó bò dậy đi nhấm nháp ly cà phê bình dân ở cái quán nhỏ gắn bó từ thời còn sinh viên.

Qua cái tết này là 25 tuổi, thế mà nó vẫn chưa chịu "già", đôi khi còn muốn mình "teen" một chút. Ừ, thì nó 25 tuổi, già hơn so với đàn em 9X nhưng nó vẫn còn nhiệt huyết lắm, đôi chân vẫn muốn đi và đôi mắt còn khao khát được nhìn thấy nhiều điều hơn.

Người ta trẻ đâu phải chỉ ở cái tuổi hay vóc dáng bề ngoài mà quan trọng là suy nghĩ, cách làm việc. Nó soi gương, mỉm cười, cuối năm đi nhiều quá nên hình như ốm và đen hơn và vì vậy... già hơn nhưng vẫn thấy lòng mình còn trẻ lắm.

Đầu hẻm, mấy bà mấy chị xôn xao bàn chuyện tết nhất, hình như tiếng than thở nhiều hơn sự hào hứng. Những người nắm hầu bao của gia đình ấy dường như không thích tết vì tết phải chi tiêu, lo toan nhiều. Chẳng bù với nó, nó nôn tết, dù sợ mình thêm tuổi! Lạ, chắc tại vì tết sẽ được về bên mẹ.

Con đường trung tâm của thành phố đang bắt đầu tượng hình những họa tiết trang trí và sẽ vô cùng rực rỡ trong mấy ngày xuân. Năm nào cũng vậy, quay lại Sài Gòn sau tết nó tranh thủ dạo đường hoa. Có lẽ vì thành phố này hiếm không gian xanh, đẹp như thế.

Những hàng quán, gian hàng đã trưng bày rực rỡ hàng tết. Lịch mới và những gói quà nho nhỏ, xinh xinh đều mang theo những câu chúc xuân an lành, thịnh vượng. Lịch năm mới cũng đã trở thành món hàng xôm tụ nơi nhiều hàng quán, nhà sách, sạp báo… Những quầy bánh chưng đông người đặt bánh hơn. Những chợ đầu mối về đêm tấp nập, đào từ miền Bắc chuyển về cũng đang chớm nụ…

Tất cả hình ảnh ấy làm nó cảm thấy đang đón một cái tết sớm ở đất Sài Gòn!

Base Hits: Surprise Exit for Melvin (?), Payroll, Projections and Irrational Exuberance

Melvin Mora has signed with the Colorado Rockies.

What's with all the "I guess Melvin Mora is really gone" stories? Wasn't it obvious when they declined his option and gave no hint whatsoever that there was still a place for him in Baltimore? Can you imagine his grousing at having to share time with Garrett Atkins or Miguel Tejada? I don't understand why people think this marks the moment that Mora is "officially" no longer an Oriole. That day has long passed.

While we're talking about Melmo, Buster Olney uses Mora's splits to demonstrate the wrong way to use stats for analysis.

Mora had a .260 batting average in 2009, but he really enjoyed the friendly confines of Camden Yards, where he hit .314 compared to .209 on the road. The .105 difference in his home versus road batting average was tied for the second-largest among players with at least 200 at-bats each at home and on the road.

Forget for a minute that batting average is a horrible stat to use for splits over one season and forget that for his Oriole career that Mora has fairly even splits in all his offensive categories, this stat may have been relevant if he was going to a neutral or pitcher's park. He's not. He's going to a field that is even more hitter friendly than OPACY. And he's going to a weaker league. If anything, Mora will enjoy a nice rebound based on this split, not a regression because he is leaving Camden Yards.

*****

Irrational exuberance alert! Another glowing story on the rebuilding O's from the national media, this time from Ben Reiter of Sports Illustrated. I wanted to highlight one point about Baltimore's free agent signings during the MacPhail era:

The idea here is to bring aboard players who will contribute immediately at the major league level, but who won't financially hamstring the club in the long term (should their production decline), and who won't block cheaper, and potentially better, alternatives who are nearly ready in the minors.


It's a point that needs more highlighting. This is precisely what The Warehouse is using free agency for in the short term and avoiding questionable multi-year deals. And it will probably work in both the short and the long term.

*****

duck at Camden Chat does his best to unravel the MLB revenue sharing model and finds the Orioles stuck in the middle.

*****

With the addition of Mark Hendrickson and Miguel Tejada, here is my estimated Opening Day payroll for the 2010 Baltimore Orioles. I am assuming that Ty Wigginton is traded away and that Jeremy Guthrie wins arbitration.

Roberts, Brian$10,000,000
Millwood, Kevin$9,000,000
Markakis, Nick $7,100,000
Tejada, Miguel$6,000,000
Gonzalez, Mike$6,000,000
Uehara, Koji$5,000,000
Atkins, Garrett$4,500,000
Scott, Luke$4,050,000
Guthrie, Jeremy$3,625,000
Izturis, Cesar$2,600,000
Meredith, Cla$1,250,000
Herdrickson, Mark$1,200,000
Mora, Melvin,$1,000,000
Moeller, Chad,$900,000
Matusz, Brian$868,000
Albers, Matt$680,000
Jones, Adam$500,000
Wieters, Matt$500,000
Pie, Felix$450,000
Mickolio, Kam$450,000
Bergesen, Brad$450,000
Tillman, Chris$450,000
Aubrey, Michael$450,000
Reimold, Nolan$450,000
Andino, Robert$450,000
Johnson, Jim$450,000
TOTAL$68,373,000

Still coming in under $70 mil. It's not a bad team for the price which will be small comfort if they lose 95+ games again.

*****

Baseball Prospectus has had to re-run their PECOTA projections due to a calculation error. The Orioles are now projected for...80 wins. My WAR spreadsheet has them pegged for 80.5 wins.

Ha! Not overly optimistic after all! Who's crazy now?

Help Me, Oriole Rotation. You're My Only Hope.

An Open Letter to the Oriole Starting Five:

Hi guys. It's closing in on Spring Training and Baltimore fans are full of (cautious, admittedly) optimism and hope. Young prospects are on the rise, national media are picking Baltimore to be much improved and even projection systems like PECOTA have the Birds within the margin of error for a winning season.

But I know the truth. This team only goes as far as you five gentlemen take us. The offense is good but not good enough to outslug the Yanks, Sox or maybe even the Rays. No, we need pitching and we need plenty of it to succeed. The good news is, you won't have big shoes to fill. The starting rotation on Opening Day was Alfredo Simon, Koji Uehara, Mark Hendrickson, Adam Eaton and Jeremy Guthrie. Jeremy, you are the only one who remains.

Each of you have a job to do and the Baltimore faithful beg you to do it well.

Kevin Millwood, we know your best days are probably behind you. While you are the de facto ace, nobody expects you to be anything better than league average. We need you to be Rick Sutcliffe circa 1992. You remember the Red Baron, don't you? He came to Baltimore late in his career to help anchor a staff of young hurlers (Mussina, McDonald, Rhodes) and for the first half of the season pitched like the Sutcliffe of old. OK, not like 1984 Sutcliffe but he went 12-6 over the first half of the season with a 4.13 ERA. He finished the season as a slightly below average pitcher in terms of ERA but for half of 1992 (and then some) he was a hero. He helped lead the Orioles, who had lost 97 games in 1991, to an 89 win season in 1992. More importantly, he bought time for the kid pitchers to develop and stabilized the rotation.

You can be that hero, Kevin. I know former Braves have not fared well in Charm City (Javy Lopez, Leo Mazzone, B.J. Surhoff v2.0) but this is a different era, an era of hope and resurrection. Seize the day and perhaps the Orioles will relax facial hair policies for you too.

Jeremy Guthrie, the Orioles claimed off of waivers three seasons ago and you went out of the frying pan and into the fire. 2009 was rough on you. You gave up a league high 35 homers. But that won't happen again because deep down, you are a groundball pitcher with enough of a fastball to strike batters out. Don't give in and keep the ball down in the zone. You finally have help. A veteran to eat innings, kids behind you who will pitch better as the season wears on. You are battle tested, sir. No pitcher in baseball has faced the fearsome lineups you have faced more often over the last three seasons.

We don't need you to try to be the ace anymore. We just need your innings, we just need your experience, we just need your spirit. Just keep the ball in the park and let your defense do the rest.

Brad Bergesen. You were labeled a AAAA pitcher. You were not supposed to have the stuff to pitch in the AL East. You were not supposed to be in the rotation in 2009. But you were and you were the best of the rotation last season.
You're a groundball machine. You walk no one. Nobody's getting a cheap hit off of you. According to The Bill James Handbook, you might just be the best fielding pitcher in the American League. You have the best chance of any of the starters to hit 200 innings pitched like Guthrie did last year. You're a fan favorite already and everyone is pulling for you to succeed. Like it or not, you're the underdog and everyone loves the underdog. Just keep it up. Please.

Brian Matusz, I have not had so much fun watching a guy pitch since Mike Mussina donned the orange & black. You have four pitches and you command them all extremely well. So on any count, you are likely to throw any of them. It reminds me of Mussina throwing his knuckle-curve on a 3-2 count, buckling the batter's knees and ringing up the K. You are that kind of talent. I can see you tying the hitters up in knots, mentally and physically with each successive at bat.

You are to inherit the "ace" tag for Baltimore and become the best Baltimore pitcher since the aforementioned Mussina. The rotation is relying more on your success than on any other individual pitcher. But the scouts love you and I think you may be due for a great leap forward in 2010.

Chris Tillman, it was not pretty during your 12 major league starts in 2009. A 5.40 ERA and lots of walks. But at the age of 21, you had nothing left to prove in the minors. You destroyed the International League posting a 2.70 ERA and 99 strikeouts in 96 innings for AAA Norfolk. It was your time. It is your time.

But just relax. No one is expecting you to be anything more than the 5th best starter for the Orioles in 2010. But I saw you in AAA. Your fastball moved and you mixed you pitches well. In Baltimore, you overthrew and that fastball flattened out. No need to throw through a brick wall. The baseball is an egg. Hold it like and egg. And by the end of the season, you may just start to show flashes of the ace potential you brought with you from the Seattle organization.

So don't believe the hype. If the Orioles are to surprise the league this season, it won't be because they signed Miguel Tejada and Garrett Atkins, it will be because the five of you.

Now let's go O's!