Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản trị doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản trị doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Những công cụ hàng đầu thống kê web và blog

Những công cụ hàng đầu thống kê web và blog

Hiện nay, có rất nhiều các website cung cấp những công cụ trực tuyến giúp bạn thông kê và phân tích các lưu lượng khách viếng thăm trang web hay blog. Những công cụ này thật sự rất quan trọng đối với các nhà quản trị web và cho các blogger. Đảo qua 1 vòng các trang web nổi tiếng và được nhiều webmaster sử dụng, có thể thấy rằng mỗi site đều có các thuật toán phân tích khác nhau, điều này dẫn đến sự khác nhau giữa các kết quả phân tích. Rõ ràng là rất khó khăn để bạn lựa chọn 1 site tin cậy để sử dụng.

Các tính năng phân tích chủ yếu của 1 Web statistics:

+ Số khách lần đầu truy cập website của bạn.
+ Số khách quay lại (đã truy cập) website của bạn.
+ Tổng số trang web khách đã truy cập.
+ Những trang web nào được nhiều khách truy cập nhất.
+ Khách đến website của bạn từ trang web nào.
+ Những từ khóa và số lần khách sử dụng để tìm ra website của bạn trên các search engines.
+ Thời điểm, số lần khách truy cập sử dụng công cụ tìm kiếm nào để tìm ra website của bạn.
+ Khách truy cập từ thành phố, quốc gia nào, địa chỉ IP của khách.
+ Khách truy cập những trang web nào trên website của bạn, vào những thời điểm nào, trong thời gian bao lâu.
+ Trình duyệt web, hệ điều hành, độ phân giải màn hình của khách.
+ Tự động cung cấp báo cáo số lượng khách truy cập lần đầu, số lượng khách quay lại website, tổng số trang web truy cập theo từng ngày, tuần, tháng, năm hoặc theo khoảng thời gian do bạn ấn định.

Google Analyticswww.google.com/analytics

Đây có thể là lựa chọn đầu tiên của các Webmaster Việt, điều này mình thấy được khi lướt qua các diễn đàn tin học thảo luận về các công cụ phân tích website. Thật sự là Google Analytics đáp ứng tốt và đầy đủ cho nhu cầu của các Webmaster. Các chức năng quản lý tại đây được thiết kế dễ sử dụng, bao gồm bảng điều khiển trung tâm và các phần quản lý chi tiết. Ngoài chức năng thống kê lưu lượng, trang này còn rất nhiều tính năng khác rất hữu ích như phân tích các từ khóa – keywords và có hỗ trợ thống kê Adwords … Chi tiết tại đây .

StatsCounterwww.statscounter.com

Stats Counter là công cụ đã có khá lâu và được nhiều Webmaster trên thế giới tin tưởng sử dụng. Công cụ này phân tích website theo thời gian thực. Giao diện khá đơn giản nhưng Stats Counter cung cấp đầy đủ các tính năng quan trọng cho người dùng. Công cụ này miễn phí cho người dùng nhưng nếu số Pageviews site của bạn vượt qua tầm 1.500.000 thì bạn phải trả 1 khoản phí nho nhỏ.

W3counterwww.w3counter.com

Công cụ này cung cấp bộ đếm và phân tích lưu lượng khá giống với Stats Counter: theo thời gian thực và cung cấp các biểu đồ rất dễ nhìn. W3counter dùng được cho web, blog và còn có 1 Plugin dành cho Wordpress. Với tài khoản free bạn sẽ phải hiển thị button của trang này lên website hay blog của mình.

Sitemeterwww.sitemeter.com

Sitemeter là website được khá nhiều các site và blog nổi tiếng hiện nay sử dụng như Lifehacker hay Gizmodo. Trang này ngoài cung cấp các bản report ở trên mạng còn gởi cho bạn 1 email với đầy đủ thống kê theo hàng tháng.

ClickyGetclicky.com

Dịch vụ này cung cấp các tính năng thống kê và theo dõi lưu lượng rất tốt. Đây là 1 trong những dịch vụ mình đang sử dụng và cảm thấy khá dễ chịu. Giao diện rõ ràng và dễ nhìn. Ngoài ra bạn còn được cung cấp 1 Widget để chèn vào blog hay website.

Một số website phổ biến khác:

Crazyeggcrazyegg.com

Crazyegg cung cấp những tính năng khá hay và thú vị như: Heatmap: cung cấp 1 hình ảnh hiển thị những điểm nóng được nhiều người click trên trang web …

Histatswww.histats.com

Dịch vụ này được rất nhiều các blogger Việt sử dụng. Hỗ trợ đầy đủ các tính năng và có các widget thống kê lượt truy cập để nhúng vào blog. Rất phổ biến tại cộng động blog Việt Nam.

Clickdensityclickdensity.com

Những tính năng tại đây khá giống với CrazyEgg.

(Sưu tầm)

Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

Hệ thống thông tin hay cỗ máy quản lý

Hệ thống thông tin chính là cỗ máy quản lý. Nhờ nó mà năng suất và chất lượng quản lý được tăng lên, khi năng suất và chất lượng quản lý được tăng lên, thì năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng được nâng lên một cấp.
Cách đây vài năm, khi tác giả bài báo này trao đổi cùng một đồng nghiệp, và đưa ra một ý là “Công ty chúng ta bé như quả trứng ấy”, đồng nghiệp liền nhắc “trứng cũng có nhiều loại, từ trứng chim cút cho tới trứng khủng long”.

Sức sống của doanh nghiệp

Doanh nghiệp (DN) to hay bé, vừa hay nhỏ, không chỉ đơn thuần nằm ở số lượng lao động hay doanh thu của nó, mà còn nằm ngay trong tư tưởng của những người chủ DN, nằm ở cái gen DN, mà người chủ đã quyết định. Ban đầu, nó có thể bé, nhưng nó sẽ lớn nhanh, hoặc nó cũng có thể chỉ lớn thêm một chút và ngừng lại…

Vậy, điều gì làm nên sự lớn hay bé ở đây? Điều gì khiến DN vượt qua sóng gió, phát triển và đạt tới sự ổn định vốn có của nó?

Chúng ta thấy gì qua hình tượng một nài voi cưỡi trên lưng một con voi. Cái gì to, cái gì nhỏ? Chúng ta thấy gì qua hình tượng một chiếc thuyền nan và một chiến hạm với đầy đủ hệ thống quan sát, điều khiển, hệ thống thông tin, liên lạc…
Lớn hay bé, còn ở cái đầu, ở hệ thống thần kinh. Thân có to, mà hệ thống thần kinh kém phát triển, thì cũng sẽ bị ai đó ngồi lên đầu.Và đâu là hệ thống thần kinh trong một DN? Chính là hệ thống thông tin!

Hệ thống thông tin, khi được coi như hệ thần kinh của DN, có chức năng cung cấp chính xác và nhanh nhất những gì được ghi nhận ở các bộ phận bên dưới. Sau đó, phải phân tích được nhanh và chính xác nhất những thông tin ghi nhận được và cuối cùng phải quyết định và chuyển lệnh đi chính xác và kịp thời nhất.

Bạn cứ tưởng tượng, một hệ thần kinh mà chỉ đi tới dạ dày, mà không tới được tay! Hay là một DN, mà hệ thống thông tin của nó chỉ tới được bộ phận kế toán, mà không tới được bộ phận bán hàng! Vấn đề căn bản nhất của hệ thống thông tin, chính là tính toàn diện của nó, thông tin của nó phải tới được hết các bộ phận.
Không có gì xấu, nếu cái dạ dày luôn làm việc tốt, nhưng sẽ rất xấu, nếu dạ dày luôn bị nhồi nhét do miệng và tay không biết là dạ dày đã quá tải. Và sẽ xấu hơn nữa, khi dạ dày cứ cố gắng tiêu hóa hết những thứ mà tay và miệng tống vào nó. Hay nói cách khác, khi mà bộ phận kế toán cứ ôm hết công việc của một đơn vị, từ sản xuất, kinh doanh, cho tới bán hàng…

Cái giá của hệ thống thông tin

Sẽ có người không hiểu sự cần thiết của một hệ thống thông tin, và cho rằng nó chỉ đáng giá vài triệu đồng, giỏi lắm vài chục triệu. Cứ cho là ông chủ DN với quan điểm như thế là người rất giỏi, và có thể tự mình điều khiển cả một con tàu lớn chỉ bằng điện thoại di động và email. Với những ông chủ này, tôi chỉ xin chia sẻ một số vấn đề đã gặp phải trong quá trình làm việc của mình. Ông có biết là mình đang lãng phí như thế nào không? Còn tôi đã gặp những DN, công nhân của họ làm việc ngày đêm, mà sản phẩm làm ra chỉ tương đương 65% năng lực. Nghĩa là ông có 1.000 công nhân thì đang lãng phí 350 người. Dù 1.000 công nhân vẫn làm việc ngày đêm, vẫn tăng ca, nhưng sản phẩm làm ra chỉ tương đương tổng định mức cho 650 người.

Tôi đã gặp những trường hợp nguyên phụ liệu trong kho còn tồn hàng trăm nghìn USD, mà bộ phận cung ứng vẫn mua thêm về cho kịp tiến độ sản xuất. Có thể thấy gì qua việc chúng ta làm việc ngày đêm, thậm chí đã khoán cho công nhân, mà hiệu quả vẫn không cao, năng suất vẫn thấp, lãng phí vẫn nhiều.

Đó là sự kém hiệu quả của hệ thống quản lý. Do điều phối chưa tốt, nên dù mỗi người đều cố gắng hết mức, năng suất chung vẫn không cao. Do điều phối chưa tốt, càng nhiều đơn hàng, càng nhiều chủng loại sản phẩm, năng suất lại càng thấp. Quản lý kém!

Ở thời kỳ cách mạng công nghiệp, mỗi công nhân chỉ làm một công việc của mình, chuyên môn hóa cao, nên năng suất tăng cao, mỗi người làm được nhiều hơn. Nhưng chuyên môn hóa chỉ hiệu quả khi người ta sáng chế ra cái băng chuyền, để chuyển bán thành phẩm từ công đoạn này qua công đoạn khác.

Mỗi người cứ làm đúng, làm tốt việc của mình, còn cái băng chuyền nó cứ chạy. Sự tăng đột biến về năng suất chính là nhờ cái băng chuyền này, cái tính hệ thống này.

Cũng như vậy, mỗi công đoạn của quá trình quản lý cứ làm tốt công việc của mình, còn hệ thống thông tin sẽ chuyển thông tin từ công đoạn này qua công đoạn khác.

Hệ thống thông tin chính là cỗ máy quản lý. Nhờ nó mà năng suất và chất lượng quản lý được tăng lên, khi năng suất và chất lượng quản lý được tăng lên, thì năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ được nâng lên một cấp.

Năng lực được khai thác sẽ không chỉ là 70%, mà sẽ lên tới 90% hoặc hơn nữa. Khi đó hàng tồn kho sẽ giảm, lãng phí sẽ giảm, cả về thời gian, về nhân lực, về tài chính.

Bạn có thể đầu tư cho hệ thống thông tin như vậy bao nhiêu, khi nó giúp bạn sử dụng thêm vài chục phần trăm năng lực sản xuất vốn đang bị lãng phí hoặc giúp bạn nhìn thấy hàng tỷ đồng tồn kho? Bạn có thể đầu tư cho một phần mềm nhỏ lẻ bao nhiêu, khi nó không có tính liên kết?
Bao giờ quyết định cũng nằm ở chính người chủ DN. Nhưng tôi tin chắc một điều, ai cũng mong muốn có một hệ thần kinh vững chắc, có một hệ thống quản lý chứ không chỉ là các công đoạn quản lý rời rạc.

Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2010

Doanh nghiệp được chẩn đoán như thế nào?


Mục đích chẩn đoán:

Xác định những chỗ chưa hiệu quả trong hoạt động doanh nghiệp, nhằm cung cấp thông tin cho việc đề xuất và thực hiện những biện pháp cải tiến để nâng cao hiệu quả hoạt động

Phát hiện kịp thời những vấn đề tiềm ẩn trong hoạt động và hệ thống quản lý của doanh nghiệp, nhằm cải tiến và phòng ngừa, không để vấn đề bộc phát, gây tác động tiêu cực

Các bước chẩn đoán

Bước 1: Thiết kế khảo sát

Nhà tư vấn cần tìm hiểu thông tin ban đầu về doanh nghiệp, tìm hiểu tình hình doanh nghiệp nhằm xác định các điểm chưa hài lòng và những mong đợi của doanh nghiệp. Xác định qui mô doanh nghiệp, phương thức quản lý để lượng định qui mô và những nguồn thông tin cần thiết cho khảo sát

Kế hoạch và các công cụ khảo sát được thiết lập sau bước thăm dò. Chi tiết kế hoạch, tiến độ thời gian và chi phí được thỏa thuận với doanh nghiệp

Bước 2: Thu thập thông tin

Nhà tư vấn tiến hành thu thập thông tin về hoạt động của doanh nghiệp thông qua những công cụ như:


Các bảng câu hỏi thăm dò

Bảng câu hỏi được thiết kế để thu thập ý kiến trả lời của các cấp quản lý và nhân viên, khách hng, nhà cung cấp. Kết quả trả lời được xử lý để thu thập cho ra kết quả thống kê, sau đó được phân tích theo các mô hình quản lý và kinh doanh tiêu biểu.

Bảng câu hỏi được thiết kế để thu thập ý kiến trả lời của các cấp quản lý và nhân viên, khách hng, nhà cung cấp. Kết quả trả lời được xử lý để thu thập cho ra kết quả thống kê, sau đó được phân tích theo các mô hình quản lý và kinh doanh tiêu biểu.

Các cuộc phỏng vấn

Nhà tư vấn sẽ phỏng vấn trực tiếp các cấp quản lý và nhân viên để tìm hiểu thông tin về hoạt động và công tác quản lý của toàn doanh nghiệp và của từng bộ phận. Các ý kiến trả lời phải được kiểm chứng và chứng minh bằng các chứng cứ thực tế.

Nhà tư vấn sẽ phỏng vấn trực tiếp các cấp quản lý và nhân viên để tìm hiểu thông tin về hoạt động và công tác quản lý của toàn doanh nghiệp và của từng bộ phận. Các ý kiến trả lời phải được kiểm chứng và chứng minh bằng các chứng cứ thực tế.

Xem xét tài liệu

Các hồ sơ lưu trữ của doanh nghiệp gồm văn bản về tổ chức, các kế hoạch, báo cáo, chứng từ

Các hồ sơ lưutrữ của doanh nghiệp gồm văn bản về tổ chức, các kế hoạch, báo cáo, chứng từ

Phân tích dữ liệu

Dữ liệu về hoạt động của doanh nghiệp và của các bộ phận được phân tích theo những tiêu chí khoa học để xác định hiệu quả thực tế và những tồn tại. Các số liệu cần phải thu thập và phân tích là: số liệu tài chính, marketing, bán hàng, nhân sự, sản xuất…

Thu thập dữ liệu thực tế

Dữ liệu về hoạt động của doanh nghiệp và của các bộ phận được phân tích theo những tiêu chí khoa học để xác định hiệu quả thực tế và những tồn tại. Các số liệu cần phải thu thập và phân tích là: số liệu tài chính, marketing, bán hàng, nhân sự, sản xuất…

Trong nhiều trường hợp, yêu cầu khảo sát đòi hỏi nhà tư vấn phải trực tiếp thu thập dữ liệu thực tế tại hiện trường sản xuất kinh doanh. Đó có thể chỉ là những bản ghi thông thường hoặc có thể là một cuộc điều tra thị trường qui mô, tuỳ cách đặt vấn đề và nhu cầu đánh giá

Bước 3: Báo cáo khảo sát

Nhà tư vấn phải phân tích các thông tin thu thập được qua quá trình khảo sát và lập báo cáo, trình bày trước doanh nghiệp. Bản báo cáo khảo sát bao gồm: mô tả hiện trạng, nhận xét của nhà tư vấn về hiệu quả hoạt động và các vấn đề cần cải tiến, các tồn tại của doanh nghiệp; các giải pháp cải tiến và khắc phục cũng như phòng ngừa các vấn đề tiềm ẩn.

Báo cáo này giúp doanh nghiệp nâng cao nhận thức về hiện trạng và hiệu quả của mình, quyết định các kế hoạch và hành động nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động hoặc làm cơ sở để doanh nghiệp tìm kiếm, đàm phán với các nhà tư vấn để giải quyết từng vấn đề cụ thể, đảm bảo phương châm đúng bệnh đúng thuốc, tránh cảnh tiền mất tật mang.

Võ Quốc Đại

7 căn bệnh lớn về quản trị doanh nghiệp Việt Nam

Ngày 13/11, Hội Marketing Việt Nam (VMA) đã tổ chức buổi thuyết trình và giao lưu với các doanh nghiệp phía Nam với chủ đề “Chẩn bệnh quản trị doanh nghiệp Việt Nam”.

Hai chuyên viên tư vấn của VMA đã đưa ra 7 căn bệnh phổ biến hiện nay của các doanh nghiệp, đồng thời “kê toa” những căn bệnh cụ thể của các doanh nghiệp.

Ông Võ Văn Thành Nghĩa, Phó chủ tịch VMA kiêm Trưởng ban tư vấn doanh nghiệp (ông Nghĩa còn được biết đến như một nhà tư vấn-chuyên viên tư vấn thương hiệu cao cấp) cho biết, trong hơn 2 năm qua, VMA đã “chẩn bệnh” (tư vấn) cho 50 doanh nghiệp gồm các doanh nghiệp tư nhân, cổ phần và cả doanh nghiệp Nhà nước.

Trong số đó, 70% là các doanh nghiệp ở Tp.HCM, doanh nghiệp thương mại và dịch vụ chiếm 80%, còn lại 20% là các doanh nghiệp sản xuất; quy mô nhân viên của doanh nghiệp lớn nhất được tư vấn là 5.000 người, thấp nhất là 10 người. Hầu hết các doanh nghiệp được tư vấn đều đánh gía cao tính hiệu qủa của việc tư vấn quản trị doanh nghiệp.

Bệnh thứ nhất: Chiến lược

Bệnh này rất nhiều doanh nghiệp mắc phải, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thể hiện cụ thể là thiếu hoặc chưa tự đánh giá doanh nghiệp mình về 5 vấn đề lớn, gồm: thứ nhất là điểm mạnh, yếu (nội lực của doanh nghiệp) về quản trị, văn hóa doanh nghiệp, nguồn lực.

Thứ hai là những cơ hội và thách thức về kinh tế, công nghệ, khách hàng và đối thủ cạnh tranh. Thứ ba là thiếu hoặc chưa tự đánh giá doanh nghiệp thường xuyên trong quá trình phát triển kinh doanh. Thứ tư là thiếu hoặc chưa có chiến lược qua từng thời kỳ hoạt động.

Cuối cùng là thiếu hoặc chưa có sự chia sẻ giữa bộ máy lãnh đạo và bộ phận thừa hành.

Ông Nghĩa đưa ra một vấn nạn hiện nay về nhân lực của các doanh nghiệp: “Nhiều người giỏi làm việc không có tâm, chỉ quan tâm đến lương cao, hay “chảnh”, nhiều người dở nhưng lại không chịu làm và học hỏi”. Hiện không ít doanh nghiệp mà giám đốc độc quyền, không tin cấp dưới, không phân quyền nên suốt ngày nhận “trình, bẩm”, từ đó ra quyết định chậm, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Nhiều vị giám đốc bị động, không chủ động lên kế hoạch đối phó với những thách thức từ môi trường khách quan bên ngoài.

Thí dụ dịch cúm gia cầm đang có nguy cơ thành đại dịch toàn cầu, ảnh hưởng rất lớn đến kinh doanh du lịch nhưng nhiều doanh nghiệp du lịch vẫn bình chân như vại.

Bệnh thứ hai: Kỹ năng quản trị

Bệnh này thể hiện ở hoạt động dẫn dắt và hoạt động kiểm tra của lãnh đạo doanh nghiệp “có vấn đề”. Khi lãnh đạo doanh nghiệp giao việc cho cấp dưới thường giao một chiều, không hướng dẫn công việc, không động viên nhân viên, thiếu sự đồng cảm chia sẻ với nhân viên, không giải quyết tốt những mâu thuẫn giữa người cũ và người mới trong doanh nghiệp.

Trong hoạt động kiểm tra, doanh nghiệp thiếu theo dõi hoạt động của nhân viên thường xuyên, không so sánh hiệu qủa công việc của nhân viên, khi nhận viên có sai sót thì đổ thừa, không giúp họ sửa sai.

Bệnh thứ ba: Kế toán-tài chính

Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp hiện nay không cho cấp dưới biết những thông tin về nguồn vốn, lời, lỗ (phân tích theo ngành hàng doanh nghiệp kinh doanh), dòng tiền với những phân tích thấu đáo nên nhân viên rất thiếu thông tin, hạn chế sự sáng tạo phấn đấu đưa doanh nghiệp phát triển.

Trong hoạt động kế toán-tài chính, nhiều doanh nghiệp không có số liệu thống kê liên tục qua các năm nên không thể hoạch định được kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Việc đối chiếu sổ sách, chứng từ, hoá đơn làm không đến nơi đến chốn, bộ phận kế toán tài chính không thường xuyên rà soát, phân tích và đề xuất những sáng kiến làm lành mạnh tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Bệnh thứ tư: Nhân sự

Ông Lê Phụng Hào, Trưởng ban đào tạo VMA chẩn căn bệnh này như sau: nhiều doanh nghiệp thiếu hoạch định chiến lược nhân sự, không phân biệt được vai trò giữa quản trị nhân sự và quản trị nguồn nhân lực, nhầm lẫn giữa duy trì động lực và tạo động lực bên trong của đội ngũ nhân viên, không phát triển được lực lượng kế thừa (bệnh sống lâu lên lão làng) và tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong nội bộ doanh nghiệp.

Bệnh thứ năm: Marketing

Doanh nghiệp thiếu hoạch định chiến lược marketing, thiếu định vị sản phẩm (nhắm tới đối tượng khách hàng là ai, tạo sự khác biệt sản phẩm của mình để cạnh tranh); xem việc phát triển thương hiệu như là làm quảng cáo mà không coi phát triển thương hiệu như phát triển một con người, không thiết lập được hệ thống phân phối hiệu qủa.

Bệnh thứ sáu: Sản xuất

Doanh nghiệp chưa xác định được chiến lược hoạt động sản xuất luôn phục vụ cho chiến lược kinh doanh, chưa thiết lập hệ thống quản lý chất lượng thực sự (lầm lẫn ISO là công cụ tiếp thị, trong khi ISO là công cụ quản lý nâng cao hiệu qủa kinh doanh của doanh nghiệp); chưa quản lý chi phí chất lượng (quên kiểm soát lãng phí vô hình - thường chiếm 20% chi chí của doanh nghiệp, mà chỉ chú ý chi phí hữu hình); chưa liên tục cải tiến chất lượng do chưa tạo được môi trường thúc đẩy sản xuất và sáng tạo trong doanh nghiệp.

Bệnh thứ bảy: Tâm lý sợ thay đổi

Bệnh này được ông Hào đúc rút thành một hình ảnh khái quát rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp: “Không sợ bệnh, chỉ sợ thấy bệnh mà không chữa, bệnh trở thành tật”, lúc đó vô phương cứu chữa

Theo Thời báo kinh tế sài gòn

Quản trị chiến lược là gì?

Một công ty cho dù có nguồn tài chính phong phú đến đâu, máy móc kỹ thuật hiện đại đến đâu cũng sẽ trở nên vô ích nếu phương thức quản lý không phù hợp. Chính những phương thức quản lý hiệu quả sẽ tạo ra bộ mặt của công ty, tạo ra bầu không khí vui tươi phấn khởi thay cho sự căng thẳng, u ám trong công ty.Và quản lý chiến lược là một trong số đó.

Quản lý chiến lược đề cập tới nghệ thuật hoạch định kế hoạch kinh doanh tại mức cao nhất và hiệu quả nhất có thể. Đó là nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo trong công ty. Quản lý chiến lược tập trung vào việc xây dựng một cấu trúc nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh của công ty, theo đó các vấn đề mới không ngừng được bổ sung thông qua những nỗ lực phối kết hợp của các nhân viên trong công ty.

Quản lý chiến lược có mối liên hệ mật thiết với việc trả lời ba câu hỏi then chốt sau:

  • Mục tiêu kinh doanh của công ty là gì?
  • Đâu là những cách thức hiệu quả nhất để đạt được các mục tiêu đó?
  • Những nguồn lực nào sẽ cần đến trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh?

Việc trả lời câu hỏi thứ nhất yêu cầu ở bạn những suy nghĩ nghiêm túc về các mục tiêu sau cùng của bạn cho công ty là gì. Bạn đang nỗ lực những gì để đạt được mục tiêu đó? Bạn đang cố gắng tối ưu hoá hay khắc phục điều gì? Đâu là những kết quả hợp lý nhất mà công ty của bạn có thể mong đợi?

Quản lý chiến lược bắt đầu từ giai đoạn xây dựng các mục tiêu và xác định các nguồn lực, biện pháp cần thiết để thực hiệu các mục tiêu đã đề ra. Giai đoạn này còn bao gồm cả việc làm thế nào để thúc đẩy các quá trình cải tiến mẫu mã sản phẩm. Ví dụ, công ty A đặt ra chỉ tiêu doanh số bán ra hàng năm phải tăng được ít nhất là 15%. Đặc biệt, đối với những sản phẩm có mặt trên thị trường chưa quá 5 năm, công ty A đặt ra doanh số bán phải tăng lên 30% mỗi năm, đồng thời xác định tỷ lệ thành công của những mặt hàng mới thường là 90% chủ yếu là nhờ kế hoạch chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng cho việc tung ra các sản phẩm mới.

Việc đào sâu để tìm hiểu kỹ lưỡng về các mục tiêu cốt lõi của công ty có thể có một vài khía cạnh cạnh cần quan tâm:

  • Đánh giá bao quát công ty với những công việc, nhiệm vụ chính sẽ được thực hiện bởi công ty, và công thức hoá cách thức công ty xem xét vai trò của mình trong những đánh giá tổng quan đó. Điều này thường được biết đến như bản tuyên bố nhiệm vụ.
  • Thiết lập các mục tiêu để đáp ứng một vài nhu cầu chưa được quan tâm, nhìn nhận cả trong ngắn hạn và dài hạn về những công ty có thể đưa ra. Điều này thường được biết đến như bản tuyên bố viễn cảnh.
  • Đặt ra các mục tiêu cho công ty, bao gồm cả các mục tiêu tài chính và mục tiêu chiến lược.

Một khi những bước đi trên được thực hiện, kế hoạch chiến lược nên bắt đầu xuất hiện - đặt ra chặng đường để trả lời câu hỏi thứ hai, hay “Làm thế nào để chúng ta hoàn thành các mục tiêu nhanh nhất và hiệu quả nhất?”. Giai đoạn hai của hoạt động quản lý chiến lược thành công sẽ vạch ra một kế hoạch để công ty hoàn thành những mục tiêu đã đề ra.

Trong giai đoạn này, một chuỗi các yêu cầu, mệnh lệnh nên được đặt ra, liên kết các nhân viên với những kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm thích hợp nhất với nhu cầu và mục tiêu kinh doanh. Từ đó, các trách nhiệm và nhiệm vụ nên được phân bổ trong toàn bộ chuỗi các yêu cầu, uỷ thác công việc cho những tập thể và cá nhân để các mục tiêu của công ty có thể được hoàn thành thông qua những nỗ lực phối kết hợp của toàn thể nhân viên. Điều này bao gồm truyền đạt các trách nhiệm và nhiệm vụ (những gì cần được hoàn thành, và kết quả việc thực hiện nhiệm vụ sẽ được đánh giá như thế nào) cho nhân viên.

Nhà quản lý chiến lược sẽ kiểm tra, theo dõi quá trình hoạt động của công ty thông qua việc thiết lập hệ thống thông tin quản trị, các tiêu chuẩn đo lường, đánh giá và thu thập các thông tin nhằm xử lý điều chỉnh các hoạt động của công ty sao cho quá trình thực hiện phù hợp với mục tiêu chung đã đặt ra. Để có thể thực hiện các điều chỉnh cần thiết, các nhà quản lý chiến lược luôn theo dõi các hoạt động đang diễn ra, so sánh kết quả với tiêu chuẩn. Chẳng hạn, để đạt được mục tiêu lợi nhuận, các nhà quản lý chiến lược phải luôn theo dõi sát các chi phí, nỗ lực giám sát chất lượng, cải tiến sản phẩm.

Bên cạnh đó, hoạt động quản lý chiến lược coi việc tổ chức trong công ty là quá trình gắn kết, phân công và phối hợp các nhân viên trong công việc nhằm thực hiện những mục tiêu đã được đặt ra; trong đó bao gồm tổ chức con người, tổ chức công việc, phân bổ các nguồn lực v.v...Chính nhờ chức năng này mà công ty quyết định được những nhiệm vụ nào cần phải hoàn thành, làm thế nào để kết hợp nhiệm vụ vào những công việc cụ thể; làm thế nào để phân chia công việc thành những công đoạn khác nhau tạo nên cấu trúc của công ty.

Cuối cùng, quản lý chiến lược đòi hỏi việc phân bổ một lượng thích hợp các nguồn lực tới các bộ phận khác nhau của công ty để những ai được phân công các mục tiêu cụ thể đều có những thứ họ cần nhằm hoàn thành nhiệm vụ giao phó. Công việc này bao gồm từ chỗ cung cấp cho các nhân viên những nguồn lực thích hợp tới việc thực thi các hệ thống mà tại đó nhân viên nhận được những đào tạo cần thiết, tất cả các quy trình công việc được kiểm tra, và tất cả các thông tin và dữ liệu đưa ra được lưu trữ. Để quản lý hoạt động kinh doanh một cách chiến lược và hiệu quả, từng cm của công ty bạn phải có các nhu cầu được đáp ứng theo nhiều cách khác nhau, vì thế tất cả các bộ phận có thể làm việc cùng nhau như một tập thể chức năng hoàn chỉnh.

Một khía cạnh quan trọng nhưng thường bị bỏ qua trong quản lý chiến lược đó là nhu cầu quản lý có kế hoạch lẫn không có kế hoạch. Các nhà lãnh đạo công ty phải chủ động thực thi những sáng kiến trong việc đặt ra cách thức công ty nên được vận hành và hoạt động như thế nào, nhưng họ cũng phải năng động phản ứng với các nhu cầu và đòi hỏi khi chúng phát sinh. Quản lý chiến lược không phải là một quy trình tĩnh. Thông thường, các kết quả ngoài dự đoán sẽ xảy ra sau đó (cả tích cực lẫn tiêu cực) và các nhà quản lý chiến lược phải có khả năng phản ứng với những sự kiện bất ngờ như vậy.

Có thể nói, quản lý chiến lược hiệu quả sẽ giúp công ty nhanh chóng phản ứng với các thách thức mới, đồng thời thay thế những ý tưởng và hoạt động đã lỗi thời bằng các quy trình giúp đáp ứng những nhu cầu mới phát sinh.

Theo allbusiness & bwportal.com

Quản trị chiến lược ngày nay

Với sự tăng nhẹ của thị trường chứng khoán và lợi nhuận, các nhà quản trị tập đoàn lại có thể "dám" ngước mắt nhìn về tương lai. “Cầm cự” thành công qua những thời khắc khó khăn bằng cách cắt giảm chi phí và từ bỏ sự xa hoa, thừa mứa, giờ đây họ lại say sưa nói về chiến lược tăng trưởng.

Các nhà sản xuất ôtô Nhật Bản rầm rộ tiến hành khai trương nhà máy mới ở Bắc Mỹ. Một số Hãng Hàng không như EasyJet và Airtran mua thêm lượng lớn máy bay. Hơn thế nữa, các vụ mua lại và sáp nhập đang tái xuất hiện, một dấu hiệu chắc chắn của chủ nghĩa cơ hội. Trong ngành công nghiệp phần mềm, Oracle ra sức mua lại Peopleson, ngay trong tuần này, Arvinmeritor đã mua nhà sản xuất phụ tùng xe hơi Dana, Hãng Alcan thì "về với" Pechiney, một động thái có khả năng làm bùng nổ xu thế hợp nhất trong ngành công nghiệp nhôm.

Tuy nhiên, trong khi vội vã tìm kiếm cơ hội tăng trưởng các Công ty lại phải đối phó với tình trạng tiến thoái lưỡng nan: liệu tương lai, dù ít hay nhiều có là sự tiếp theo của quá khứ? Và các nhà quản trị thông thái chỉ việc dựa dẫm vào những thế mạnh vốn có hay sẽ bạo gan "bứt phá" mà "tóm" lấy tương lai?

Bối rối lựa chọn phương pháp quản trị

Sau thảm bại dotcom và những lời "bàn ra tán vào" về các mô hình kinh tế, cuộc cách mạng mới rõ ràng chẳng còn mấy hấp dẫn. Niềm tin về một sự chuyển mình mạnh mẽ đã bị sụp đổ bởi vụ nổ bong bóng chứng khoán và sự ra đi của những tập đoàn lớn như Enron và Webvan. Thay vào đó là ác cảm với "mốt" quản trị nhất thời. Hầu hết các nhà quản trị ngày nay đều không còn dám "thả mồi bắt bóng".

Kết quả của chương trình nghiên cứu kéo dài 5 năm do trường Đại học Harvard Business phối hợp cùng trường Tuck School of Business thực hiện đã phản ánh rõ tinh thần đó. Chương trình này "soi" 160 Công ty dưới kinh hiển vi trong giai đoạn 10 năm (1986 - 1996) và chấm điểm dựa trên cách họ sử dụng 200 phương pháp quản trị khác nhau. Rõ ràng, "điểm lo" không hề phụ thuộc vào việc Công ty đó có sử dụng công cụ quản trị thời thượng hay không. Vấn đề không phải là bạn dùng phần mềm ERP (lập kế hoạch chiến lược) hay hệ thống CRM (quản trí quan hệ khách hàng), mà là dù bạn chọn công nghệ nào, thì liệu bạn có khả năng đạt kết quả hoàn mỹ hay không.

Ngày nay có quá nhiều ông chủ cho rằng tương lai sẽ chẳng khác gì quá khứ những gì tốt cho ngày hôm qua thì cũng sẽ tốt cho hôm nay và ngày mai. Rõ ràng đây là một thái độ có thể huỷ diệt mọi giá trị. Chẳng hạn như câu chuyện về chi nhánh Manhattan của Ngân hàng tiết kiệm Sông Đông, được thành lập năm 1848. Các báo cáo của Ngân hàng đều phản ánh rõ tính an toàn, bảo đảm và tiết kiệm. Song sau khi đi vào thị trường bất động sản hồi những 1970, ngay lập tức hãng bị tấn công bởi cuộc khủng hoảng Ngân hàng những năm 1980. Cuối cùng thì chi nhánh này lại nằm trong tay một Ngân hàng khác và bị đóng cửa năm 1997. Còn bây giờ trụ sở tại đó đã là một Công ty dược phẩm.

Quá khứ đã “làm gì” cho tương lai

Theo Richard Foster và Sarah Kaplan đồng tác giả cuốn "Huỷ diệt sáng tạo", thì tốt hơn là các nhà quản trị không nên mơ về một thời kỳ vàng son chỉ còn trong huyền thoại, cái thời mà tất cả mọi Công ty cứ thế trưởng thành và mạnh mẽ, đến nỗi cả quả phụ và trẻ mồ côi cũng có thể yên tâm trao gửi chút tài sản nhỏ mọn. Lý tưởng "hồng hào" về những ngày tháng oai hùng quá khứ chỉ còn là ảo mộng, bởi trong cuộc đấu tranh sinh tồn này, ngay cả những tập đoàn tốt nhất cũng không thể đảm bảo sẽ hoạt động mạnh mẽ, tăng trưởng mãi mãi. Chẳng hạn trong danh sách 100 Công ty hàng đầu nước Mỹ năm 1917, đã có đến 61 tập đoàn trở thành "sao băng" vào năm 1987, số còn lại cũng chỉ có 18 Công ty tiếp tục "trụ” trong lớp 100, như Kodak, Dupont, General Electric, Ford, General Motors và Procter & Gamble. Những tập đoàn đáng kính này đã chống chọi qua mọi thời kỳ suy thoái, chiến tranh thế giới, khủng hoảng giá dầu mỏ và cả những biến động công nghệ khôn lường. Nhưng sống sót không có nghĩa là vẫn ngày ngày thu lợi nhuận. Trong số 18, chỉ có GE và Kodak nổi bật trên thị trường chứng khoán. Số còn lại đều chịu mức doanh thu thấp hơn 20% so với tỉ lệ tăng trưởng hàng năm của toàn thị trường là 7,5% từ 70 năm qua.

Tuy nhiên, cuốn sách "Built to Last" của 2 tác giả Jim Collins và Jeny Porras được xuất bản năm 1994 lại đưa ra một cái nhìn hoàn toàn trái ngược. "Built to Last" thí nghiệm trên 18 công ty liên tục cho kết quả kinh doanh tốt trong một thời gian dài và kết luận rằng có khả năng tồn tại lâu bền" và "thành quả kinh doanh" có sự liên kết chặt chẽ. Cuối cùng theo Collins, những Công ty thành công không cần phải có một người lãnh đạo thuyết phục. kiệt xuất, cũng không cần đến chiến lược thông minh hay sự tiếp quản táo bạo. Mà trên hết, họ cần đến những ông chủ quyết đoán, đặt niềm tin vào các tiêu chuẩn và kỷ luật cao. Chẳng hạn như trường hợp của Darwin Smith, CEO của Kimberly- Clark, bản chất khiêm tốn không hề ngăn cản ông đưa ra những quyết định kịch tính. Nhận ra ngành kinh doanh cốt lõi sản xuất giấy than cũng chỉ đưa lại một viễn cảnh tầm thường, CEO này quyết định bán nhà máy giấy và biến toàn Công ty thành nhà sản xuất các sản phẩm giấy tiêu dùng.

Câu chuyện này có vẻ giống chi tiết một nhân vật đã đốt toàn bộ thuyền của mình. bởi vậy những người đi cùng không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải sống sót và thành công trong thế giới mới. Với Collins, chẳng có gì mâu thuẫn trong việc tưởng nhớ quá khứ, nhưng cùng lúc đó cần phải hành động vì tương lai. Ông tin rằng những người lãnh đạo như Smith sẽ không khởi nghiệp Công ty bằng cách đặt ra một tầm nhìn mới và một chiến lược mới. Thay vào đó, họ sẽ giữ lại những người cần thiết và sa thải những kẻ bất tài, người ở lại sẽ ngồi vào vị trí thích hợp - rồi lúc đó CEO mới tính đến chuyện sẽ đi đâu tiếp.

Những biến động không thể tránh khỏi

Lựa chọn hành khách trước khi khởi hành không phải là điều mà Peter Schwartz ưa thích. Con người lão thành nhất trong việc hoạch định tương lai cho rằng tương lai không đến nỗi "khó hiểu” như chúng ta nghĩ. Các Công ty có thể vẽ ra đường đi, rồi mới quyết định sẽ giữ ai lại. Trong cuốn sách mới "Inevitable Surprises", Schwartz liệt kê một số trường hợp đột biến của tương lai nhưng không làm mọi người ngạc nhiên, chẳng hạn như sự kéo dài tuổi thọ, sự thay đổi trong tiêu chuẩn định cư, sự thống trị của kinh tế và quân sự Mỹ và cả sự tồn tại của một loạt những quốc gia hỗn loạn có thể gây khủng bố, bệnh tật và chia rẽ.

Những Công ty nào muốn đối phó với biến động không tránh khỏi này cần có sự lựa chọn, như xây dựng hệ thống hiểu biết vững vàng, thay đổi ý niệm thời gian, cố gắng để không bị "ra rìa", thậm chí là áp dụng những cơ cấu gây huỷ diệt sáng tạo. Bởi có phương pháp nào, điều lệ nào, tổ chức nào thực sự không bị huỷ diệt trong mấy năm qua? Nếu câu trả lời là không, có lẽ đã đến lúc cần hành động trước khi phải “cấp cứu”.

Ý kiến cho rằng các Công ty buộc phải "gắn bó" khăng khít với quá khứ cũng khiến Fritz Kroeger chán ngắt. Là phó chủ tịch hãng tư vấn A.T. Kearney, Kroeger cho rằng động cơ chính quyết định sự sống còn và thành công của tập đoàn là tốc độ chạy đua cùng đối thủ trong cuộc chơi. Về cơ bản. đây là lý thuyết huỷ diệt sáng tạo thông qua việc sáp nhập và mua lại.

Chiến lược trong cuộc chơi này cần được quyết định bởi tổng quan thời đại, bao gồm 4 bước. Đầu tiên là khi chưa có sự tập trung thị trường hoặc chỉ có rất ít. Những Công ty vừa thay đổi, những hãng vừa thành lập và những tổ chức phát sinh đều có mặt trong giai đoạn này. Và sự tập trung thị trường - được đo bằng thị phần kết hợp của 3 công ty lớn nhất - chỉ chưa bằng 20%. Các ngành công nghiệp được nhắc đến trong giai đoạn này là đường sắt, truyền hình, phúc lợi công cộng và bảo hiểm.

Giai đoạn thứ hai kéo dài 7 năm còn gọi là “giai đoạn đo lường", bởi lúc này quy mô chính là ưu thế. Các công ty hàng đầu sẽ sáp nhập và độ tập trung thị trường tăng lên khoảng 30 - 40%. Các ngành công nghiệp trong giai đoạn này là hoá học, dược phẩm, giấy, thức ăn sẵn, khách sạn và bia.

Trong giai đoạn thứ 3, các Công ty sẽ mở rộng ngành kinh doanh cốt lõi của mình, loại bỏ các hoạt động thứ yếu hoặc đánh đổi với Công ty khác để tập trung vào ngành chính. Lúc này, các Công ty lãnh đạo đã chiếm được gần 70% thị phần. Sản xuất xăm lốp, đồ chơi và thép là những ngành công nghiệp có mặt trong bước 3.

Trong giai đoạn cuối, sẽ có một số Công ty được hưởng đến 90% thị phần toàn cầu. Những người khổng lồ trong giai đoạn 4 như ngành thuốc lá và xe hơi - có xu hướng thành lập liên minh để tăng cường phát triển. Nhờ vậy mà hãng Genelal Motors có được 25% thị phần xe hơi, song tất cả đều thông qua chiến lược liên minh mới các “nhà” xe hơi khác như Fiat, Fuji, Daewoo và Suzuki.

“Thực trạng” và “ảo giác”

Có lẽ thách thức lớn nhất hiện này với các nhà quản trị là phân biệt giữa "thực trạng" và "ảo giác an toàn" vì những thành kiến bẩm sinh. Cũng bởi những thành kiến này mà John Akers. khi đó là CEO của IBM, đã gây ra sự hỗn độn chưa từng có. Tất cả nghị lực, sự sắc sảo tinh khôn và trí thông minh của ông cùng với các cộng sự cao cấp cũng không thể giúp ông hiểu tại sao Công ty lại bị cuốn đi trong cơn thác lũ của những vụ nổ bong bóng.

Mặt khác, lại có những người đã "hy sinh" vì "sự nghiệp" huỷ diệt sáng tạo và cuối cùng cũng huỷ diệt luôn chính bản thân họ và đôi khi cả những người xung quanh. Chẳng hạn như tập đoàn Enron đã bỏ qua mọi mô hình kinh doanh ống và khí tự nhiên kiểu cũ để biến thành một nhà thương mại năng lượng vị lai. Tất nhiên, cũng có thể nói rằng Enron nhẽ ra sẽ thành công nếu hãng không vội vàng áp dụng những "lối đi tắt" chết người.

Cuối cùng, có lẽ không còn lời khuyên nào tốt hơn lời khuyên của nhà quý tộc bất mãn trong vở "The Loepard" của Guiseppe de Lampedusa. Đấu tranh để sinh tồn trong bối cảnh hỗn loạn của nước Italia thế kỷ XIX, ông mỉa mai nói: mọi thứ phải thay đổi, cũng vì thế mà mọi thứ sẽ như cũ”.

Tỉ lệ 80/20

Nghiên cứu gần đây của Mckinsey cho thấy những lý thuyết của Pareto - nhà kinh tế học Italia thế kỷ XIX, cho rằng 80% thu nhập quốc gia đều nằm trong tay của 20% dân số - vẫn còn đúng cho đến ngày nay. Tỉ lệ 80/20 nổi tiếng đó cũng được áp dụng với giá trị gia tăng do các Công ty hàng đầu làm ra, tương tự như với lượng thu nhập của quốc gia.

Mckinsey thí nghiệm 1000 công ty từ 15 ngành kinh doanh khác nhau của nước Mỹ trong giai đoạn từ 1969 - 1999, khoảng thời gian diễn ra nhiều thay đổi, biến động trong môi trường kính tế hơn bao giờ hết. Người ta tiến hành đo lường giá trị thị trường gia tăng (MVA) của các Công ty, sự thay đổi trong những con số nợ nần và cả giá trị cổ phiếu. Kết quả 80% MVA hoặc hơn của toàn bộ 15 ngành công nghiệp đều do 20% số Công ty hàng đầu nắm giữ. Hơn thế nữa, tỉ lệ 80/20 liên tục đúng trong thời hạn 30 năm, chỉ xảy ra có một biến động nhỏ - xuống 76% vào năm 1989.

Phần thưởng vì đã giữ đúng tỉ lệ này có thể rất lớn, song sự trừng phạt vì hướng đi trái ngược lại có thể là cái chết. Một vài bước chân dạo trên khu tây London ngày nay sẽ nhắc nhở ta nhớ đến con số tử vong của các tập đoàn. Một bên bờ sông Thames là toà nhà trụ sở vắng teo, hiu quạnh của tập đoàn thép British Steel một thời lừng lẫy, nhưng giờ đã "hoà tan" hoàn toàn sau vụ sáp nhập với một tập đoàn Hà Lan. Qua bên kia sông, toà nhà Chính phủ "chễm chệ" nằm ngay trên mảnh đất nơi từng là trụ sở oai hùng của đại gia ICI, 30 năm trước là hình ảnh thu nhỏ của công xưởng nước Anh, nay chỉ còn là một "cơ thể" nhỏ nhoi đang oằn mình tranh đấu. Gần bên công viên Hype, dãy văn phòng của GEC, biểu tượng của những ngày tháng hoàng kim xưa, giờ là những căn hộ sang trọng. Và bên đường Bond, những căn nhà trụ sở làm nên "kinh đô”, Mareoni đứng thừa thãi với những bức thư lâu năm chất đống bên trong những cánh cửa im ỉm khoá. Thời oanh liệt xưa chỉ còn là những bông cỏ cuộn tròn lăn theo gió.


Theo Tap Chi Doanh Nhan

Thách thức các thương hiệu lớn: Cá bé nuốt cá lớn, tại sao không?

Bạn có bao giờ nghĩ một ngày nào đó doanh nghiệp (DN) sản xuất nước giải khát bé nhỏ của bạn sẽ chiến thắng một Coca-Cola lẫy lừng trên chính sân nhà của mình? Dường như đã có một trật tự không thể thay đổi.

Nhưng vì sao bạn không thử làm một cuộc soán ngôi? “Hãy thách thức các thương hiệu lớn”- ông Hermawan Kartajaya, chủ tịch Hiệp hội Marketing thế giới, nói với hơn 200 DN tham dự hội thảo về chiến tranh thương hiệu do Công ty PACE VN tổ chức ngày 28-6 vừa qua.

Chiến lược của con cá nhỏ: khuấy động ao!

Làm thế nào để một DN địa phương nhỏ có thể cạnh tranh và chiến thắng những thương hiệu quốc tế hùng mạnh và lâu đời hơn? “Đó không phải là một nhiệm vụ bất khả thi” - ông Kartajaya khẳng định.

Thị trường luôn tràn ngập hàng hóa. Tưởng tượng đó là một cái ao rất yên tĩnh bởi những con cá lớn đang thống trị bên trong. Những con cá lớn luôn tham lam, luôn muốn bành trướng sức mạnh của mình cũng như các DN lớn không bao giờ cảm thấy mình đã có đủ hàng hóa để bán. Họ sẽ sản xuất thêm và thêm nữa, và dĩ nhiên sẽ liên tục mở rộng kinh doanh.

Kết quả thế nào? Cá lớn sẽ nuốt cá nhỏ, mở rộng hệ thống phân phối, giảm giá thành bằng cách tăng năng suất, xâm nhập thị trường mới... Các DN nhỏ bị kẹt cứng trong cuộc đua tranh của những DN lớn và những hệ thống bán lẻ. Làm thế nào để tồn tại là một vấn đề không đơn giản, nói gì đến chuyện cạnh tranh và chiến thắng.

“Nếu như bạn có suy nghĩ như vậy thì bạn đã là người thua cuộc ngay từ đầu. Chưa lâm trận đã vội buông giáo mác” - ông Kartajaya nói. Có một lối suy nghĩ rất phổ biến của những con cá nhỏ là tôi bé quá, ngân sách eo hẹp, làm sao chạy đua quảng cáo với các “đại gia”, cho nên thua cũng là lẽ thường tình. “Nhưng vì sao bạn không có cách làm thông minh hơn, hãy nghĩ vượt khuôn khổ, chẳng hạn như khuấy động cái ao đó lên. Khi những con cá lớn đang ngơ ngác vì một đợt sóng lạ, đó không phải là cơ hội cho bạn hay sao?” - ông Kartajaya nói.

Theo ông, có quá nhiều cách để bạn có thể chọn lựa để đưa thương hiệu của mình đến với người tiêu dùng. Khi nguồn lực của công ty bạn hạn chế, đừng buồn chỉ vì không đủ tiền để quảng cáo như người ta. Hãy nghĩ đến các bảng quảng cáo ngoài trời, những lá thư chào mời trực tiếp với cách thiết kế thật thú vị, hấp dẫn, những bài hát sôi động có tên thương hiệu của công ty bạn trong đó, đủ hay để những cô gái, chàng trai hát vang khắp nơi và những người “sính chuyện” có cơ hội để tán tụng về nó…

Nhưng nhớ rằng trong lúc bạn nỗ lực, các DN lớn cũng đâu có ngủ quên. Những con cá lớn sẽ không ngừng truy đuổi con cá nhỏ. “Vậy chúng tôi phải làm sao đây?” Một câu hỏi vang lên từ bên dưới. Ông Kartajaya lắc đầu khẽ: “Không có công ty nào lớn mãi mãi và công ty nào nhỏ mãi mãi. Khi bạn khuấy động ao bằng chính sự sáng tạo và khác biệt, người tiêu dùng sẽ nhận ra bạn. Nhưng nếu những gì bạn đem đến cho họ là sản phẩm chất lượng thì vẫn chưa đủ. Hãy đem đến cho họ những cảm xúc, lay động con tim và tấm lòng của họ, gợi mở những ước mơ, những khát vọng.

Bản chất của người tiêu dùng không bao giờ trung thành, nhưng nếu bạn tạo ra được sự gắn bó cảm tính và tâm lý giữa họ với biểu tượng của công ty bạn, bạn sẽ nắm cơ may thành công”. Ông nhấn mạnh: “Còn nếu như bạn cảm thấy không sống được trong cái ao lớn và chật chội kia, hãy tạo ra một cái ao khác cho mình, tạo ra một sân chơi mới với những luật chơi mới. Khi đó, bạn có thể dang tay đón những con cá nhỏ khác, và những người tiêu dùng khó tính chợt nhận ra rằng bạn đang tạo ra một mẫu hình mới cho những người khác theo sau, hà cớ gì lại không chọn sản phẩm của bạn”.

Để là thương hiệu thách thức

Qui luật giá trị gia tăng lợi nhuận nói rằng cá nhỏ nỗ lực hơn nhiều so với cá lớn mới cũng chỉ để giữ nguyên vị trí, không bị thụt lùi. Nhưng rồi cá nhỏ sẽ đi đến đâu? Ông Kartajaya khuyên bạn nên trăn trở mỗi ngày với một số tôn chỉ trong hành động
Trước hết, hãy dứt bỏ ngay quá khứ. Khi bạn không thể quên đi những điều cũ thì tâm trí bạn không còn chỗ để nghĩ ra cái mới, tiếp nhận những giá trị sáng tạo đích thực. Bạn luôn tiếc nuối một cán bộ quản lý đầy kinh nghiệm vừa bỏ bạn ra đi, nhưng vì sao bạn không thử hợp tác với một người chưa có bất cứ kinh nghiệm gì trong ngành hàng của bạn?

Kinh nghiệm đôi khi là một cạm bẫy và những người “trắng tinh” nhiều lúc lại đưa ra những sáng tạo không ngờ. Và đến một lúc nào đó, bạn hãy thôi hỏi mình câu hỏi “Tại sao?” mà chuyển sang câu hỏi “Tại sao không?” - Tại sao không làm cái này, tại sao không làm cái kia. Bởi đó là những câu hỏi thôi thúc hành động, nếu không ý tưởng vẫn mãi chỉ là ý tưởng.

Richard Branson là một người không có kinh nghiệm trong ngành hàng không. Nhưng ông là người đầu tiên nghĩ ra nên sử dụng những chiếc ghế matxa để làm ngắn lại chuyến hành trình cho các “thượng đế” của Hãng hàng không Virgin Atlantic. Và từ đó, ông đã xây dựng một hệ thống nhận diện ấn tượng cho Virgin Atlantic.

Làm sao để biết DN của bạn đang thành công ở khía cạnh này? Theo ông Kartajaya, có bốn thước đo: sự khẳng định về cá tính của thương hiệu, mối cảm xúc mà thương hiệu đó mang đến cho người tiêu dùng, tính mãnh liệt của nó và ấn tượng nổi bật khiến người tiêu dùng có thể nhận ra nó giữa rừng hàng hóa.

Tất cả nỗ lực trên của con cá nhỏ sẽ giúp nó dần chiếm lĩnh vị trí thống trị trong tâm trí khách hàng. Có một thực tế là DN của bạn khó lòng có thể trở thành thương hiệu đứng đầu thị trường - tức thương hiệu có thị phần lớn nhất, nhưng bạn có thể là thương hiệu thống trị tâm trí - tức được mọi người quan tâm nhiều nhất. “Không lấy được lòng khách hàng là cách chết nhanh nhất” - ông Kartajaya khẳng định. Sản phẩm dệt may, da giày của VN rất chất lượng, điều đó không ai bàn cãi.

Nhưng vì sao thương hiệu này chưa đến được với người tiêu dùng thế giới? Đó là do các nhà sản xuất VN chưa “chạm” được xúc cảm của họ. Một con đường đi còn rất dài phía trước. Thế cho nên ở thời điểm nào đó, DN cần phải tạo ra một biểu tượng giá trị mới, như Nike từng thành công trong việc lật đổ Adidas khỏi vị trí thống trị thị trường với hình tượng quảng cáo mới Michael Jordan, siêu sao huyền thoại trong làng bóng rổ thế giới.

Thế nhưng, suy cho cùng kẻ thách thức cũng chính là kẻ biết hi sinh, bởi hi sinh chính là xác lập và tập trung vào những thế mạnh của mình, không phải cái gì cũng ôm đồm, thị trường nào cũng muốn tấn công. “Chẳng hạn như tại thị trường VN, tham gia thị trường phía Nam là điều rất khó khăn.

Vậy vì sao DN không làm ngược lại, bắt đầu từ thị trường phía Bắc hay miền Trung, huy động nguồn lực làm cho thật mạnh, sau đó tiến dần về Nam. Điều tôi muốn nói là DN có thể sáng tạo trong mọi hoàn cảnh để tìm ra một con đường đi phù hợp. Bởi đối thủ cạnh tranh lớn nhất của DN chính là chính mình” - ông Kartajaya nói.

Theo PACE.com.vn

Mô hình quản trị trong công ty đại chúng



Trong bối cảnh của ta, khi bàn về đề tài trên thì có câu hỏi là: quản trị nào? Sở dĩ vậy là vì danh từ quản trị dùng ở ta. Các văn bản chính thức quy định “Quản trị công ty” là “corporate governance” và dành cho các công ty niêm yết; trong khi “management” - dẫu không được dịch chính thức - cũng là “quản trị”. Xin cùng tìm hiểu.

Quản trị công ty tại các nước phát triển

Tại các nước này, khi nói đến việc điều khiển công ty thì có ba lĩnh vực:

1. Luật công ty ấn định cơ cấu quyền lực trong công ty. Đó là trách nhiệm và quyền hạn của đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc và ban kiểm soát. Dựa theo đó các công ty lập ra bản điều lệ cho công ty mình.

2. Quản trị công ty (management) hay quản trị kinh doanh, là việc ấn định tổ chức chi tiết của công ty (phòng ban), các vị trí nhân sự khác nhau dành cho người lao động; mối tương quan về công việc giữa các phòng ban và nhân viên để thực hiện các quyết định của các trung tâm quyền lực. Quản trị công ty gồm có: lập kế hoạch, tổ chức, tìm tài nguyên, lãnh đạo, chỉ huy cùng kiểm soát công ty. Tìm tài nguyên bao gồm việc bố trí và điều khiển nguồn nhân lực, tài chính, tài nguyên về kỹ thuật và thiên nhiên.

Quản trị theo nghĩa trên liên quan đến nội bộ công ty. Người ta ấn định các cấp quản trị viên khác nhau: cao cấp, trung cấp và sơ cấp. Mỗi cấp có quyền hạn khác nhau.

Trong quá trình phát triển, quản trị công ty có bốn cấp độ:

- Thuận tiện: có từ khi một doanh nghiệp đầu tiên xuất hiện cho đến bây giờ;

- Khoa học: bắt đầu khoảng năm 1910 trở đi và hoàn tất vào cuối những năm 1960. Nó có thể như thế mãi hay đi lên cấp độ cao hơn;

- Tiên tiến: có từ năm 1987 đến nay, thường gọi là ISO, hoặc quản lý chất lượng;

- Hiện đại: bắt đầu năm 1990 đến nay.

Các cấp độ này sống chung với nhau tùy theo doanh nghiệp sử dụng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có hàng trăm, hàng ngàn nhân viên thì không thể áp dụng thuận tiện mà bắt buộc phải là khoa học và cao hơn.

Quản trị thuận tiện dựa trên sự tin tưởng từng người, không có thể thức điều hành chung nên không có văn bản gọi là cẩm nang. Quản trị khoa học dựa trên các thủ tục, thể thức điều hành và được viết ra thành cẩm nang; nhờ đó có thể đem sang dùng tại các cơ sở khác.

3. Corporate governance: mới có từ khoảng 1985 đến nay. Nó là một quá trình (process) hay thủ tục về giám sát (supervision) và kiểm soát (control) được thực hiện để bảo đảm cho việc thực thi quản trị công ty (management) phù hợp với lợi ích của các cổ đông (Parkinson 1994).

Ở Mỹ người ta nghiên cứu về quy chế này và thấy các khuôn mẫu (model) của “corporate governance’’ ở các nước không khác nhau nhiều; không có một khuôn mẫu của Mỹ so với khuôn mẫu của một nước châu Á, hay châu Âu; mà phần lớn được quyết định theo cơ cấu sở hữu của công ty, bất kể đến vị trí địa lý của chúng trên thế giới.

Luật công ty của mỗi nước sẽ làm cho các điểm đặc thù về “corporate governance’’ khác nhau; nhưng tất cả có một khuynh hướng là quy tập về những tiêu chuẩn chung dựa trên các nguyên tắc tổng quát sau:

- Sự độc lập của các thành viên hội đồng quản trị và việc giám sát hữu hiệu của họ;

- Chịu trách nhiệm với các cổ đông;

- Minh bạch và công bố thông tin; và

- Bảo vệ quyền lợi của cổ đông nắm vốn ít.

Tình hình ở Việt Nam

Luật Doanh nghiệp cũng ấn định các trung tâm quyền lực của công ty và gọi là quản lý và điều hành.

Trường đại học ở ta có dạy quản trị kinh doanh nhưng chưa có văn bản chính thức và ở các công ty danh từ đó không phổ biến lắm. Sở dĩ vậy là vì công ty ở ta bắt đầu bằng các doanh nghiệp nhà nước. Chủ nhân của nó cấp tiền và ra lệnh cho người dưới chứ không bao giờ điều khiển một doanh nghiệp. Ông ta ban hành kế hoạch, tiêu chuẩn, chế độ chính sách... để quy định công việc thực hiện. Còn người thực hiện chính là công nhân - mà cũng là chủ luôn - và có cả một bộ luật công đoàn chi phối tinh thần làm việc, chế độ làm việc và bảo vệ công việc. Cả chủ lẫn thợ không bao giờ có một quan niệm về quản trị kinh doanh, hiểu theo nội dung của các nước phát triển, mà chỉ đến “quản lý”, chế độ, chính sách. Như thế là các doanh nghiệp nhà nước quản trị theo sự thuận tiện.

Khi các công ty tư nhân được thành lập thì ông chủ đi theo nếp của doanh nghiệp nhà nước có thêm thắt sáng kiến của mình; nhưng cũng không nhận ra trình độ quản trị của mình là thuận tiện.

Sau năm 1995, các học giả, sinh viên (chưa làm doanh nhân bao giờ) đi học quản trị kinh doanh ở các nước phát triển; lúc đó họ đang dạy quản trị tiên tiến. Các vị kia và cả các công ty tư vấn nước ngoài nữa, bèn đem ISO về áp dụng cho các doanh nghiệp muốn “quản lý” tốt hơn. Họ ghép ISO vào quản trị thuận tiện và cả hai đều loay hoay vì không biết cái gốc. Phải lên khoa học đã! Do vậy đã có nhận xét chỉ khoảng 10% công ty có chứng chỉ ISO là làm đúng và còn theo đuổi.

Trong khi còn đang thiếu một nền tảng quản trị khoa học thì do nhu cầu hội nhập, rồi khuyến cáo của các chuyên gia nước ngoài; năm 2002, Ủy ban Chứng khoán du nhập các điều khoản trong corporate governance vào bản điều lệ mẫu dành cho các công ty niêm yết. Họ không đặt tên rõ ràng. Năm 2003, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương dịch bản báo cáo về corporate governance của tổ chức OECD là “quản trị công ty”. Đến năm 2007, trong Quyết định số 12 ngày 13-3, Bộ Tài chính cũng gọi là “quản trị công ty” và định nghĩa: là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty.

Các nguyên tắc quản trị công ty ở ta có, thí dụ, trình tự, thủ tục về triệu tập và biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông; ứng cử, bầu cử, bổ nhiệm và bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị; trình tự, thủ tục tổ chức họp hội đồng quản trị; quy trình, thủ tục phối hợp hoạt động giữa hội đồng quản trị, ban kiểm soát và ban giám đốc; quy định về đánh giá hoạt động, khen thưởng và kỷ luật đối với thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban giám đốc và các cán bộ quản lý; những vấn đề liên quan đến cổ đông lớn. Như thế, “quản trị công ty” ở ta có nội dung khác với “mangagement” của thế giới.

Khi chạy, chiếc xe phải di chuyển theo sự điều khiển của tài xế (đó là quản lý và điều hành) nhưng nó có thể bị hỏng giữa đường (do management). Quản trị công ty (corporate governance) yêu cầu chiếc xe chạy tốc độ nọ kia, cách thay tài xế nhưng nó không nổ máy (vì management). Khi dùng “quản trị công ty” để dịch cho “corporate governance” ta đã bỏ “quản trị” (management); cái mà chúng ta đang còn yếu! Vậy mô quản trị cho công ty đại chúng là “management” hay “corporate governance”? Phải nói ngay làm cái sau không khó.

Luật công ty của mỗi nước sẽ làm cho các điểm đặc thù về “corporate governance” khác nhau; nhưng có chung các nguyên tắc tổng quát sau: Sự độc lập của các thành viên hội đồng quản trị và việc giám sát hữu hiệu của họ; chịu trách nhiệm với các cổ đông ; minh bạch và công bố thông tin; và bảo vệ quyền lợi của cổ đông nắm vốn ít.

Nguyễn Ngọc Bích (saigontimes)

Làm thế nào để giữ vững niềm tin trong cuộc khủng hoảng?

Khi cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho niềm tin của mọi người cũng bị khủng hoảng trầm trọng theo, bạn phải làm gì để giữ vững niềm tin? Mc Kee sẽ tư vấn cho bạn bằng một phương trình mang tên hi vọng...

Trong một vài bài viết gần đây, tôi đã từng nói rằng gần như không ai trong chúng ta có thể làm được công việc vá lại lỗ hổng của cuộc khủng hoảng tài chính đã gây ra cho thị trường. Bản thân tôi đặc biệt chú ý tới sự tương trợ lẫn nhau, tới những cuộc đối thoại trầm tĩnh đề phần nào che bớt đi sự ảm đạm của những gì đang diễn ra với tất cả mọi người, không trừ một ai, trong thời kì đầy khó khăn này.

Và ai cũng đang kiếm tìm cho mình một niềm tin, sự an ủi thông qua việc cùng nhau tham gia những hoạt động đó. Thật vui khi chứng kiến việc đó. Sự cổ vũ, khích lệ, sự hi vọng sẽ cho chúng ta sức mạnh để vượt qua khó khăn.

Tuy nhiên, có điều gì đó vẫn làm tôi thấy đôi chút băn khoăn. Chúng ta không thể ngồi yên một chỗ. Hi vọng không đồng nghĩa với sự thụ động. Ngược lại, hi vọng hoàn toàn chủ động, nó đòi hỏi phải nhiều nỗ lực. Nó hoàn toàn chủ động, và nó đòi hỏi phải có nhiều năng lượng và lòng dũng cảm.

Tôi xin chia sẻ với các bạn một “phương trình” mà tôi rất tâm đắc, do một người bạn thân của tôi (Cha Vladirmir Felzmann) đã từng đề cập tới: Hi vọng = Niềm tin + Sự gian nan, thử thách. Cùng nhau hi vọng sẽ giúp chúng ta:

* Nhìn mọi việc theo chiều hướng lạc quan (Chúng ta sẽ vượt qua nó!);
* Vẽ ra một viễn cảnh khả thi cho tương lai (Không được phép ảo vọng. Cần phải lý trí một cách hợp lý.); Khám phá tính hiệu quả (Tôi, hay chúng ta có thể làm việc này trở thành sự thực!)

Số hạng “niềm tin” trong phương trình của Vladimir vừa đề cập ở trên đã bao hàm cả sự lạc quan (và còn nhiều hơn thế). Sự hi vọng được khởi nguồn với một niềm tin vững chắc rằng tương lai sẽ mang lại những điều tốt lành nhất cho chúng ta, cho gia đình, cho cộng đồng và cho cả nhân loại.

Sự gian nan thử thách mà chúng ta phải đối mặt chính là việc phải có được một tầm nhìn đúng đắn về tương lai, với những việc làm có nhiều khả thi. Nếu tỏ ra bị đờ đẫn vì sợ hãi, đau buồn, hay quá nóng giận; thì khó có thể tô màu cho bức tranh viễn cảnh đó được.

Chính vì thế, bước đầu tiên trong chuỗi hành trình gian nan trước mắt là cần lưu tâm tới việc kiểm soát những cảm xúc tiêu cực thường lấn át lý trí của con người mỗi khi mọi chuyện đi chệch quỹ đạo, không theo đúng hướng mà mình mong muốn.

Điều này không có nghĩa là phải tìm cách xua đuổi mọi nỗi sợ hãi, tức giận, hay sự buồn phiền; bởi đôi lúc chính những xúc cảm này lại tỏ ra rất hữu ích trong việc định hướng hành động của chúng ta. Tuy nhiên, tuyệt đối không thể để cho những trạng thái tình cảm này lấn át và chi phối chúng ta. Khi điều đó xảy ra, cũng là lúc chúng ta đã mất hoàn toàn sự kiểm soát với cuộc sống của mình – và với cả tương lai phía trước.
Do đó, thay vì xua đuổi, hãy cảm nhận nỗi sợ hãi, sự tức giận, và cả sự ưu phiền đang ngự trị trong con người bạn. Những xúc cảm này cho bạn biết những gì về mình, về những người xung quanh, về về tình cảnh mà bạn đang trải nghiệm? Liệu từ sâu bên trong, những trạng thái này đang mách bảo bạn điều gì?

Hãy suy nghĩ càng sâu càng tốt. Hãy biến những sắc thái tình cảm này thành nguồn động lực khiến bạn có thêm quyết tâm “thức tỉnh và làm một điều gì đó”. Và sẽ là hoàn hảo nếu việc mà bạn làm có ích cho người khác. Đó là cách thức nhanh nhất để biến những cảm xúc tiêu cực thành những cảm xúc tích cực hơn. Và không thể phủ nhận rằng đây là một công việc không hề đơn giản và dễ dàng, nó đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn chúng ta tưởng.

Đôi khi, chính những tình cảm u sầu là nguyên nhân khiến con người bị bủa vây và kìm kẹp trong sự bất an, lo lắng; chúng sinh ra những ảo giác ám ảnh ngăn cản chúng ta nhìn nhận thẳng vào sự thật.

Sự điềm tĩnh (có phần rầu rĩ) mà tôi nhìn thấy ở những người bạn và đồng nghiệp của mình gần đây thật sự hết sức đáng quý – và sẽ tốt hơn nếu sự điềm tĩnh đó gắn liền với thực tại. Vì thế, nếu lúc nào cũng cố che giấu, cố gắng xóa đi những cảm giác về sự bất ổn, thì nhiều khi chúng ta sẽ bị thuyết phục một cách mù quáng rằng mọi thứ sẽ trở lại “bình thường” và rằng mọi chuyện rồi sẽ đổi khác, sẽ biến chuyển tốt hơn... Hãy thật cẩn trọng!

Niềm tin mù quáng vào tương lai chính là biểu hiện của một thói quen phòng thủ. Có những lúc tâm lý con người bị đè nặng, ám ảnh bởi một ý nghĩ rằng chỉ có thần tiên, những điều kì diệu mới giúp cho chúng ta khỏi mọi rắc rối hiện tại.

Tuy nhiên, cũng giống như những xúc cảm tiêu cực, niềm tin vào phép màu (mà không có căn cứ gì) sẽ phá hủy khả năng hành động tỉnh táo, và khôn ngoan của chúng ta. Đó cũng giống như một món ăn tinh thần. Hương vị của nó sẽ thật tuyệt đặc biệt vào một ngày mưa buồn. Nhưng nếu cứ ăn nó hàng ngày bạn sẽ không tránh khỏi việc phát phì.

Nỗ lực cần tiếp tục được phát huy với một nhiệm vụ khác khó khăn hơn là: phải học cách chỉ ra được điểm khác biệt giữa một giấc mơ hữu ích và một hi vọng hão huyền mà chính nó có thể là vật cản trở với bạn trên đường con đường tiến về phía trước.

Làm sao để bạn có thể nói rằng liệu mình có đang đi đúng đường không? Hãy nói cho một ai đó. Hãy tìm đến những người xung quanh bạn, những người có thể nói cho bạn biết sự thật. Hãy mang họ vào những giấc mơ của bạn. Hãy nói về những giấc mơ của họ. Cùng động viên lẫn nhau.

Cuối cùng là công việc gian nan nhất: Phải luôn tin tưởng vào chính mình. Hi vọng sẽ chẳng là gì nếu không có những hành động dũng cảm. Muốn vậy, trước hết bạn phải luôn tự tin, đừng bao giờ mất niềm tin vào bản thân, niềm tin mà bạn – hay chúng ta – có thể biến điều gì đó thành hiện thực.

Tại sao lúc nào đế bước từng bước tiến về phía trước và chịu trách nhiệm cho tương lai cũng khó đến vậy? Vào những thời điểm khó khăn, có thể nhiều người trong số chúng ta sẽ tỏ ra bị hạ gục bởi sự dè dặt, sợ hãi, thiếu tự tin được ngụy trang dưới những hình thức như là sự cẩn trọng, hoặc thái độ “chờ đợi và xem xét”.

Và đây chính là một nghịch biện: Sự thiếu tự tin sẽ không tự động ra đi cho tới khi bạn hành động, dù cho có gặp phải rủi ro thất bại. Không ai có thể làm việc này hộ bạn được.

Hi vọng luôn khởi hành cùng sự lạc quan. Hầu hết trong mọi trường hợp chúng ta đều có thể tìm thấy một điểm sáng, kể cả trong bóng đêm. Hãy tìm lấy điểm sáng cho chính mình. Giờ thì cùng thức tỉnh và làm điều gì đó, hãy để sự lạc quan làm bạn đồng hành trên chặng đường đó.

Hãy tô màu cho bức tranh về một giấc mơ mà bạn gửi gắm niềm tin. Hãy nói cho một ai đó. Hãy hành động, dù cho có gặp phải rủi ro thất bại. Và hãy nỗ lực hết mình để mang hi vọng đến với cuộc đời.

- Bài viết của Annie McKee trên chuyên mục Discussion Leaders, tạp chí Harvard Business Online – theo Tuan Viet Nam

Trao quyền tự quyết cho nhân viên

Giới kinh doanh ngày nay đã nghe nói nhiều tới thành công của những tổ chức được đặc trưng hóa bằng thuật ngữ “tổ chức một người”,

Nghĩa là thành công của cả tổ chức chỉ nhờ vào một nhân vật: nhà lãnh đạo. Nhưng đại đa số các trường hợp thành công khác, chính cấp dưới mới thực sự là những người mang lại thành công cho tổ chức.

Bạn hãy lựa chọn nhân viên một cách thận trọng và đúng lúc, sau đó cho họ quyền tự do hành động trong một giới hạn phù hợp. Nhiều con người, lẽ ra đáng giá một trăm đô-la, nhưng mãi mãi chỉ là một cấp dưới đáng giá mười lăm đô-la, chỉ vì không được cung cấp một phạm vi đủ rộng để hoạt động và không được tạo điều kiện để phát triển. Lãnh đạo doanh nghiệp có thể không phát hiện ra khả năng của một nhân viên ngồi tại một góc nào đó trong văn phòng, nhưng rất có thể anh ta sẽ “toả sáng” nếu có cơ hội trổ tài và nếu được trao một phạm vi quyền hạn đủ lớn để sáng tạo.

Các công ty nên tuyển chọn một nhân viên từ khi anh ta còn trẻ với mức lương khởi điểm khiêm tốn, sau đó huấn luyện và tạo cho anh ta những cơ hội thăng tiến. Cách làm đó hay hơn nhiều so với việc tiếp nhận lại một nhân viên đã từng làm việc ở các doanh nghiệp khác và biến anh ta thành cấp trên của các nhân viên cũ.

Muốn có thành công lâu bền, bạn hãy cố gắng làm sao để nhân viên có thể phát triển cùng với doanh nghiệp. Khi đã lựa chọn được một nhân viên ưng ý, bạn cần tạo cho anh ta những cơ hội, thử thách, sau đó đánh giá xem anh ta “biết làm gì”, đồng thời có những điểm hạn chế nào. Tuy nhiên, như thế chỉ đủ để xác định xem anh ta có phải là một nhân viên thích hợp với công việc hay không. Phát triển nhân viên, nghĩa là mở ra trước anh ta một khoảng trời tự do và trao cho anh ta quyền tự quyết các vụ việc theo thẩm quyền, còn bạn sẽ giám sát kết quả đạt được trong một khoảng thời gian nhất định.

Con người trưởng thành từ những sai lầm

Con người rút kinh nghiệm thông qua những sai lầm của chính mình. Một nhà quản lý giỏi cần biết kỳ vọng và khuyến khích nhân viên của mình sáng tạo cho dù mắc sai lầm, bởi vì chỉ bằng cách đó, nhân viên mới có được kinh nghiệm. Quản lý nhân viên theo cách này có thể tốn kém trong thời gian đầu, nhưng lại là phương thức duy nhất để đào tạo một nhân viên cho những vị trí cao hơn và quan trọng hơn trong tương lai.

Chúng ta đều biết rằng, không ai có thể trở thành “thiện xạ” mà chưa từng lãng phí đạn dược. Tương tự như thế, nhà quản lý cần phải chịu các chi phí thử nghiệm và cho phép nhân viên mới thể hiện khả năng của mình, mặc dù kết quả thu được sẽ không đến tức thời mà chỉ thấy được sau một thời gian nào đó. Nếu một nhân viên liên tục mắc sai lầm và không đạt được kết quả nào đáng kể thì người đó chắc chắn phải ra đi. Nhưng, ngược lại, nếu các thí nghiệm khẳng định anh ta có năng lực thì bạn nghĩ đến việc thăng chức và tăng lương cho anh ta trong một tương lai gần.

Lợi thế lớn nhất của phương pháp này là tạo cho nhân viên niềm tin vào bản thân – nếu không có phẩm chất này, anh ta không thể làm việc hiệu quả và không thể thành công, kể cả trong công việc cá nhân cũng như trong những chung của doanh nghiệp. Sự tự tin có thể được ví như mảnh đất ươm mầm sáng tạo, từ đó tạo ra lợi nhuận cho công ty.

Trao quyền chủ động và tự quyết

Cách tốt nhất để nhân viên trung thành với công ty là ngay từ đầu cho họ biết rằng họ được toàn quyền chủ động trong công việc của mình. Ai cũng muốn làm việc lâu dài cho một công ty mà tại đó, anh ta có thể phát huy tiềm năng cao nhất của mình, và ở đâu duy trì được quan điểm như vậy thì nhân viên ở đó không bao giờ nuôi ý định bỏ đi tìm chỗ làm khác tốt hơn. Song đôi khi, công ty cũng gặp phải những nhân viên có năng lực hạn chế, thể hiện qua việc “giữ nguyên hiện trạng” sau khi đã đạt đến mức phát triển tối đa.

Người lãnh đạo công ty nên thường xuyên trao đổi với nhân viên về các phương pháp làm việc, mặc dù đây không phải vấn đề cần được quan tâm quá nhiều. Quan trọng hơn hết là thành quả sau cùng – doanh thu, lợi nhuận. Người lãnh đạo cần tỏ rõ quan điểm: “Tôi không quan tâm đến phương pháp làm việc của từng nhân viên trong từng bộ phận, chừng nào anh ta còn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Thành công cần được khen ngợi kịp thời và nhấn mạnh đó là thành tích của một số cá nhân cụ thể. Cần làm cho mỗi nhân viên hiểu rằng, khả năng thăng tiến của anh ta phụ thuộc vào những nỗ lực bản thân và chất lượng công việc mà anh ta thực hiện. Nếu một nhân viên bán hàng tăng được 3% doanh số bán hàng tại địa bàn anh ta phụ trách trong một khoảng thời gian nào đó, thì nghiễm nhiên anh ta có quyền được tiếp tục làm việc trong công ty bất kể anh đạt được kết quả đó bằng cách nào.

Trong các chỉ dẫn dành cho nhân viên, chắc chắn sẽ có nhiều điều …phản tác dụng. Vì thế, bạn đừng quá đi sâu vào chi tiết- những chỉ dẫn quá cụ thể sẽ biến con người thành cái máy. Khi giao việc cho ai đó, không bao giờ nên nói “hãy làm chính xác như thế này”, hay “không được làm như thế”, mà hãy nói: “Hãy giải quyết vấn đề này một cách tốt nhất trong khả năng của anh”.

Như vậy, nhân viên đó sẽ nỗ lực để làm việc tốt nhất . Áp dụng triệt để chính sách này, công ty không cần có qui tắc cụ thể đối với từng nhân viên, mà lại nuôi dưỡng được đạo đức cá nhân cũng như đạo đức doanh nghiệp.

Các nhà quản lý hay lãnh đạo công ty cũng không nên khen ngợi hay khiển trách nhân viên bằng lời quá nhiều. Người lãnh đạo khôn ngoan sẽ nói rằng, nhân viên đó đã làm việc rất chăm chỉ, hay mức lương chưa tương xứng với nỗ lực của anh, song đó là mức lương cao nhất dành cho vị trí hiện tại, vì vậy anh ta sẽ được xem xét để cất nhắc lên vị trí cao hơn ngay khi cơ hội mở ra và khi anh ta chứng tỏ được năng lực của mình. Việc tăng lương hay thăng chức cho các cá nhân nên được các lãnh đạo công ty chủ động quyết định, chứ không nên đợi nhân viên yêu cầu. Mặc dù việc một nhân viên yêu cầu tăng lương có thể là hoàn toàn chính đáng, nhưng theo kinh nghiệm quản lý, những người quản lý nên sớm phát hiện ra các nhân viên đang làm nhiều hơn mức lương họ nhận được và thưởng cho họ vì điều đó.

Tất cả những khoản ngoài lương như phần thưởng, quà tặng hay tiền thưởng đều không nên đưa vào hệ thống quản lý nhân viên được đề xuất ở trên, vì làm như thế không khác nào coi thường họ. Những khoản tiền thưởng kiểu này – về bản chất chính là sự mua chuộc hay hối lộ - ngụ ý rằng vẫn họ chưa làm hết sức mình. Việc trao thưởng cho những nỗ lực đặc biệt có thể khuyến khích nhân viên ở một số tổ chức, nhưng sẽ không đạt hiệu quả mong muốn trong các tổ chức mà nhân viên có quyền tự chủ cao như mô hình đề xuất tại đây.

Biện pháp quản lý nhân sự này đạt được tất cả những kết quả thường thấy trong các hệ thống phát triển nhất, nhờ có mối liên quan hữu cơ với quá trình tuyển chọn, đào tạo và gìn giữ nhân viên có trình độ cao. Nó giúp người lãnh đạo công ty chọn đúng người cho đúng công việc và giao đúng việc cho đúng người, đồng thời khuyến khích nhân viên thể hiện mình tốt hơn, thực thi công việc tốt hơn, kết quả là khiến họ trung thành với công ty hơn. Có thể nói, đây là một phương pháp “dùng người” khôn khéo và phù hợp nhất đối với giới lãnh đạo trong các doanh nghiệp hiện đại.

Theo mtvland

Quyết định nhanh, quyết định có suy nghĩ

Mỗi một nhà quản lý thường chẳng có ngày nào mà không phải đưa ra các quyết định. Buổi sáng khi tới văn phòng phải đưa ra quyết định, tự mình quyết định, bắt buộc phải quyết định và thường xuyên quyết định nhanh chóng. Như thể anh ta không thể tồn tại mà không đưa ra quyết định.

Bạn quyết định như thế nào? Đây là một câu hỏi mà không ai thấy nó phi lý, thậm chí đấy còn là một điều bình thường, vì tất cả chúng ta hầu như phải thường xuyên đưa ra quyết định. Nhưng luôn tồn tại song song quyết định đúng và quyết định sai, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị chiến lược, các quyết định thường hầu như không thể lấy lại được, vì thế điều quan trọng là phải biết đưa ra những quyết định đúng. Biết đưa ra quyết định đúng: đây là một bài học mà tất cả mọi người đều phải trải qua. Mặc dù một số người sẽ có được khả năng đưa ra quyết định đúng như một sự hiển nhiên mà không phải lúc nào cũng theo cùng một cách.

Thực tế có những quyết định mà không cần dùng tới phương pháp. Những tình huống diễn ra và buộc bạn phải quyết định nhanh chóng: đó là khả năng của một nhà quản lý tốt, đặc biệt khi những quyết định của anh ta được đánh giá cao. Nhưng cũng có những tình huống mà bạn cần tới sự tính toán, đánh giá một số các giải pháp thay thế: đây chính là thời điểm mà bạn cần có một phương pháp tốt để không xa rời mục tiêu: lựa chọn giải pháp hiệu quả nhất.

Những quyết định đúng thường là những quyết định được đưa ra theo một phương pháp xác định. Chúng phụ thuộc vào quan điểm và nhận thức của người đưa ra quyết định nhưng tất nhiên đòi hỏi phải có sự đánh giá giữa nhiều giải pháp và việc lựa chọn một trong số chúng.

Chúng tôi đưa ra dưới đây một phương pháp giúp bạn đưa ra quyết định. Nó có thể được áp dụng ở bất cứ hoàn cảnh nào, cả khi bạn đưa ra những quyết định quan trọng. Nó gồm 10 bước, giúp bạn thành công trong cả công việc cũng như trong cuộc sống riêng.

Tự hỏi liệu bạn có thực sự cần đưa ra quyết định hay không?

Quyết định mà bạn định đưa ra có thuộc phạm vi của người khác hay không? Bạn có thực sự cần quyết định? (nếu ít nhất bạn không phải lựa chọn giữa 2 khả năng hoặc nhiều hơn, hãy nghĩ rằng bạn không cần phải đưa ra quyết định). Khi nào thì bạn cần đưa ra quyết định? Tại sao đưa ra quyết định lại là việc quan trọng? Ai là những người có thể liên quan tới quyết định của bạn? Đâu là những đặc điểm riêng có trong quyết định của bạn?

Đưa ra càng nhiều giải pháp càng tốt.

Hãy xác định càng nhiều giải pháp theo khả năng bạn có thể nghĩ ra. Giúp đầu óc của bạn trở nên thoải mái, đừng vội phán xét bất cứ giải pháp nào. Đây không phải là thời gian phán xét, tốt hơn hãy chắc chắn rằng bạn đã liệt kê hết chúng ra.

Tìm kiếm các nguồn thông tin khác có thể giúp bạn đưa ra thêm nhiều giải pháp.

Quả thực nếu bạn chỉ có ít giải pháp, chắc chắn bạn cần tìm thêm nhiều giải pháp thay thế khác. Bằng cách tìm hiểu các thông tin thêm bạn có thể đưa ra nhiều giải pháp khác. Nguồn thông tin của bạn có thể từ bạn bè, gia đình, đồng nghiệp, cộng sự, các tổ chức chuyên nghiệp, các chuyên gia, nguồn chính phủ, Internet, báo chí, sách vở…

Kiểm tra lại từng giải pháp.

Bây giờ là thời điểm bạn cần định rõ từng giải pháp sau khi đã tìm được nhiều giải pháp dựa vào các nguồn thông tin khác nhau. Càng có nhiều thông tin, bạn càng có nhiều ý tưởng, và vì thế bạn sẽ đánh giá các giải pháp này tốt hơn. Hãy đảm bảo rằng bạn ghi lại tất cả các đánh giá và đã kiểm tra chúng.

Xem lại kĩ càng tất cả các giải pháp.

Bây giờ khi bạn đã có một danh sách các giải pháp, hãy bắt đầu bằng việc đánh giá những giải pháp mà bạn cho là phù hợp hơn cả. đầu tiên, hãy liệt kê các tiêu chí đánh giá, đặc tính cũng như những giá trị cần tính đến đối với mỗi giải pháp. Sau đó hãy nhận định các giải pháp có nhiều đặc tính và giá trị nhất. Tiếp đến, đánh dấu các giải pháp không tương hợp với những giá trị đưa ra.

Xác định các kết quả có thể xảy ra của từng giải pháp.

Hãy tưởng tượng các kết quả có thể của từng giải pháp còn trên danh sách của bạn. Ở đây, sự nhạy cảm cá nhân của bạn có ý nghĩa rất quan trọng.

Đưa ra một đánh giá thực tế.

Hãy xác định trong số các giải pháp có tính thực tế nhất, có khả năng ứng dụng hiệu quả nhất. Gạch những giải pháp viển vông. Tính đến cả sự ứng dụng trong từng lĩnh vực: gia đình, doanh nghiệp, xã hội…

Đâu là những giải pháp phù hợp nhất với bạn?

Xác định trong số các giải pháp còn lại những giải pháp phù hợp nhất. Nếu trong số chúng có một số làm bạn hài lòng nhưng kết quả có thể không phù hợp, đó chính là quyết định chưa đúng đắn. Vả lại, nếu một giải pháp không phù hợp nhưng kết quả lại hấp dẫn bạn, bạn cũng nên biết rằng đó cũng chẳng phải là một quyết định thông minh. Một quyết định đúng là quyết định phù hợp với bạn và cho kết quả tốt. Đó chính xác là quyết định mà bạn cần lựa chọn.

Tự chuẩn bị

Một khi mà bạn đã đưa ra quyết định, hãy nắm giữ lấy nó. Mọi sự do dự sẽ khiến bạn bị lung lay. Hãy đảm bảo rằng bạn sẵn sàng thực hiện nó tốt nhất. Tuy nhiên bạn có thể quyết định lại nếu bạn muốn, nó không phải là quyết định vĩnh viễn.

Chúng sẽ tiến triển như thế nào?

Lần lượt đánh giá những ảnh hưởng của quyết định. Những mong chờ của bạn có được thoả mãn hay không? Chúng có làm bạn hài lòng không? Bạn có muốn sửa lại không hay để cho chúng tiếp tục được thực hiện? Nếu những mong đợi của bạn không được thoả mãn, hãy bắt đầu lại tiến trình bằng cách đặt ra câu hỏi sau: Tôi đã có đủ thông tin hay chưa? Đâu là những giá trị thực sự cần tính đến? Những giá trị mà tôi đưa ra có phải là những giá trị của riêng tôi hay của ai khác?

Bằng mọi cách, hãy nhớ rằng bạn có thể xem xét lại các quyết định của mình.


(Theo Gestion de l’entreprise)
BWPORTAL

Một số khái niệm và định nghĩa về quá trình ra quyết định

Quyết định cũng phải lưu ý đến các tác dụng phụ hoặc các lợi thế gián tiếp.
Một quyết định nếu như chỉ hoàn hảo về mặt kĩ thuật mà lại không có tính xã hội thì sẽ không hiệu quả. Chỉ có những quyết định đựơc thực hiện một cách cẩn thận và tỉ mỉ thì mới có hiệu quả như cách chúng được mong đợi.
Quyết định phải đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả với các cân nhắc về phí tổn, sức lực và các hậu quả có liên quan.

Thông tin : Đây là sự am hiểu về các quyết định, hiệu quả của các biện pháp thay thế và những điều tương tự như vậy. Điều quan trọng là tuy các thông tin quan trọng rất được mong chờ nhưng khái niệm “ càng nhiều thông tin càng tốt “ở đây là không chính xác. Việc có quá nhiều thông tin có thể làm giảm tính hiệu quả của quyết định.

Các biện pháp thay thế: Có một số biện pháp thay thế để chọn lựa. Chúng có thể được nhận dạng ( có nghĩa là tìm kiếm hoặc định vị ) hay thậm chí là phát triển (tạo ra chúng ở nơi mà trước đây chúng chưa từng xuất hiện). Chỉ đơn thuần tìm kiếm những khả năng thay thế đã tồn tại sẵn sẽ không đem lại hiệu quả cao trong quá trình ra quyết định.

Các phân tích : Đây là những đặc điểm và yêu cầu mà ít nhiều các khả năng thay thế phải có. Thường thì các biện pháp thay thế được đánh giá thông qua khả năng có các phân tích hiệu quả như thế nào. Ví dụ như các biện pháp thay thế của công ty Toyoa chỉ đứng thứ 8 trong bảng xếp hạng trong khi đó cũng cùng các biện pháp như vậy công ty Buick lại đứng thứ 6.

Các mục tiêu : Bạn muốn hoàn thành mục tiêu nào? Một điều đáng ngạc nhiên là các nhà ra quyết định thường hay thu nhập rất nhiều biện pháp thay thế để rồi sau đó lại tự hỏi : “ Tôi phải chọn cái nào bây giờ “ mà trước tiên không hề nghĩ xem mục tiêu mà mình muốn đạt được là gì. Nếu như bạn thấy bản thân mình đang đặt ra các câu hỏi như “ tôi nên làm gì, tôi nên chọn biện pháp nào ?” thì trước hết phải hỏi bản thân mình “ Mục tiêu của tôi là gì ?” đã.

Giá trị : Giá trị liên quan đến hiệu quả cụ thể được mong muốn như thế nào, giá trị của các khả năng thay thế dù có tính theo USD, cảm giác hài lòng hay các giá trị khác

Sở thích: Điều này phản ánh thứ bậc triết lí và đạo đức của các nhà quyết định. Chúng ta có thể gọi đây là các “ giá trị “ của họ nhưng điều này cũng khá rắc rối với cách sử dụng khác của những từ trên. Nếu như chúng ta có thể sử dụng một trong những từ trên chúng ta có thể nói rằng các giá trị cá nhân tạo ra sở thích. Một số người thích từ sôi nổi cho đến yên tĩnh , chắn chắn cho tới mạo hiểm, trong khi đó có người lại thích chất lượng cho tới số lượng ..vân vân. Do đó tuy các cá nhân có chọn lựa khác nhau nhưng điều này là có lợi dựa trên sở thích riêng của họ.

Hiệu quả của quyết định : đây là việc xếp loại xem một quyết định là có hiệu quả hay không. Một quyết định hiệu quả là quyết định có logic dựa trên các thông tin sẵn có và sự phản ánh các sở thích của người ra quyết định .

Điêù quan trọng cần nắm ở đây là hiệu quả của quyết định không liên quan tới tác động của nó . Một quyết định tốt đều có thể mang cả hậu quả tốt lẫn xấu. Tương tự như vậy, một quyết định tồI ( quyết định do thiếu thông tin hoặc không phản ánh sở thích của người ra quyết định ) có thể mang đến một kết quả khả quan.

Ví dụ như khi bạn phảI đưa ra quyết định có phân tích và cẩn thận về sự đầu tư chắc chắn nào đó dựa trên những gì bạn biết về khả năng rủi ro của nó cũng như những sở thích của bạn thì quyết định của bạn sẽ có hiệu quả ngay cả khi bạn có thể mất tiền trong việc đầu tư. Tương tự như vậy nếu như bạn vội vã mua cổ phần của các công ty đang phất thì quyết định của bạn cũng là một quyết định tồi kể cả khi giá cổ phiếu của các công ty đó đang tăng vọt.

Các quyết định tốt có thể mang lại kết quả tồi do đó không nên kết tộI bản thân. Nếu như bạn chọn một tuyến đường dựa trên những gì mình đã biết về con đường (an toàn, không quá đông người qua lại…) và các sở thích các nhân của bạn (ít nguy hiểm , có nhiều cảnh đẹp..) thì quyết định của bạn là một quyết định đúng mặc dù trên đường đi bạn có thể gặp tai nạn hay bị thủng lốp xe . ..Đừng có đổ lỗI cho mình rằng : đó là một quyết định ngu ngốc.

Quyết định phải đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả với các cân nhắc về phí tổn, sức lực và các hậu quả có liên quan. Liệu các biện pháp thay thế có đem tới hậu quả tiêu cực làm cho chọn lựa trở nên ít được mong chờ hơn không ?

Quyết định cũng phảI lưu ý đến các tác dụng phụ hoặc các lợi thế gián tiếp. Một ứng cử viên cho vị trí nhân viên có thể có các khả năng trội hơn không liên quan trực tiếp tới công việc nhưng những khả năng này lại có thể sẽ có ích cho công ty. Một lần nữa bạn hãy nhớ chú ý đến điều này.

Sự chấp thuận: Các quyết định đưa ra phải được sự chấp thuận của những người thực hiện nó và những ai chịu ảnh hưởng từ quyết định đó cả về mặt lí trí và tình cảm. Nó là một yếu tố quan trọng bởi vì đôi khi nó có thể gây ra xung đột. Trong trường hợp này hãy chọn một giải pháp tuy có hiệu quả kém hơn nhưng được chấp thuận nhiều hơn. Ví dụ như khi một loạI bánh hỗn hợp mới được tung ra thị trường, nhà sản xuất đã chọn những nguyên liệu có chất lượng tốt nhất để làm bánh và chỉ cần trộn nước vào là dùng được. Tuy nhiên khi tung ra thị trường loại bánh này lại không được thị trường chấp thuận. Sau khi điều tra lí do các nhà sản xuất đã phát hiện ra rằng các bà nội trợ không thích loại bánh này bởi vì n ó tạo cho họ có cảm giác có lỗi. Họ thấy mình không phải là những người vợ tốt khi làm những chiếc bánh “ăn liền” như vậy. Giải pháp được đưa ra là nhà sản xuất sẽ rút nguyên liệu trứng hoắc sữa ra khỏi loạI bánh mới này do đó các bà nội trợ sẽ phải thêm bánh hoặc sữa mới dùng được thay vì chỉ trộn vào nước như trước đây.

Điều này khiến họ cảm thấy có ích hơn, vì cảm thấy có ích là một nhu cầu bản năng mà con người cần có. Như vậy xét về mặt lí thuyết thì giảI pháp mới tuy kém hiệu quả hơn nhưng về mặt kết quả nó lại được chấp nhận nhiều hơn. Công thức bánh mới trở nên cực kì phổ biến và được các bà nội trợ rất ưa thích .

Do đó các phương pháp đơn giản có thể đem lại kết quả khả quan hơn nếu như nó có sự ủng hộ rộng rãi. Một trong những yếu tố quan trọng cần cân nhắc trong quá trình ra quyết định đó là nhân tố con người. Bạn nên đặt mọi quyết định trong nhu cầu của số đông.

Một quyết định nếu như chỉ hoàn hảo về mặt kĩ thuật mà lại không có tính xã hộI thì sẽ không hiệu quả. Chỉ có những quyết định đựơc thực hiện một cách cẩn thận và tỉ mỉ thì mới có hiệu quả như cách chúng được mong đợi

Theo Tầm Nhìn